Trang chủ

Dienstag, Februar 28, 2012

LÒNG TIN CỦA ĐỨC MARIA:
ÂN HUỆ TUYỆT ĐỈNH VÀ VĨNH CỬU
CỦA CHÚA THÁNH THẦN

Agnes Cunningham[1]


Qua Chúa Thánh Thần, mầu nhiệm về lòng tin của Đức Maria vừa được ẩn giấu, lại vừa được mạc khải ra trong Kinh Thánh và Truyền thống sống động, và được trung thực lưu truyền kể từ thời các tông đồ cho đến nay.[2] Mầu nhiệm ấy ẩn kín trong những gì Lời mạc khải của Thiên Chúa đã không vén tỏ cho biết về Đức Trinh nữ Maria. Nó lộ hiện rõ ràng qua những gì có thể đọc thấy nơi các văn đoạn kinh thánh nhắc đến ngài.[3] Trong Thánh Truyền – qua đường lề lối giải thích xác thực và đáng tin cậy của Giáo hội về Lời đã được viết ra của Thiên Chúa, Lời đề cập, trực tiếp hay gián tiếp, đến Đức Maria;[4] trong các điểm giáo huấn và tín điều mà Huấn quyền công bố; và qua việc cử hành sinh hoạt phụng vụ, là “yếu tố cấu thành của Truyền thống thánh thiện và sống động”[5] – mầu nhiệm ấy cũng đã được nêu rõ sáng tỏ. Nhưng cùng lúc, mầu nhiệm về lòng tin của Đức Maria cũng vẫn còn tiềm nặc trong những vấn đề chưa được giải đáp đầy đủ, dù có quan liên đến chân lý nòng cốt và nền tảng của đức tin kitô, những vấn đề mà trí óc con người hằng không ngừng thắc mắc nêu lên nhằm vào: cuộc Phục sinh của Đức Giêsu Kitô,[6] cùng với hết thảy các mầu nhiệm khác nữa trong cuộc đời của Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập thể. Cả những gì được phát biểu ra lẫn những gì còn nằm trong vòng thinh lặng, đều hé lộ cho thấy mầu nhiệm về lòng tin của Đức Maria và đưa đến chỗ nhìn nhận tính cách ưu việt của sự hiện diện liên lỉ cùng với hoạt động không ngừng của Chúa Thánh Thần nơi con người và trong cuộc đời Đức Maria. Qua cuộc ngẫm suy về những ân huệ tuyệt đỉnh và cao trọng mà Thần Khí đặc biệt ban tặng cho Đức Maria, tín hữu sẽ có thể khởi sự nắm bắt được một cách trọn vẹn hơn, mầu nhiệm về lòng tin của Đức Maria và ý nghĩa của mầu nhiệm ấy đối với Giáo hội và thế giới.
Bài viết này sẽ trình xuất một số điểm suy tư, bao gồm: 1) mầu nhiệm về lòng tin của Đức Maria; 2) quá trình diễn tiến của mầu nhiệm ấy kể từ cuộc Truyền tin cho đến biến cố Canvariô;[7] và 3) ý nghĩa của mầu nhiệm này đối với giai đoạn thứ hai trong cuộc chuẩn bị tiến vào Thiên kỷ thứ Ba, một thời gian – một năm – “được đặc biệt dành riêng để hướng lòng về với Chúa Thánh Thần, và với sự hiện diện tác thánh của Người ở giữa lòng cộng đoàn các môn đồ Đức Kitô.”[8]

I. Mu nhim lòng tin ca Đc Maria
Các thế hệ tín hữu đã coi đoạn Tin Mừng trình thuật về biến cố Truyền tin như là văn đoạn phát biểu rõ ràng nhất về lòng tin của Đức Maria.[9] Với lòng tin được củng cố và gia cường nhờ việc noi theo gương mẫu của Đức Maria, không biết bao nhiêu con người nam và nữ đã được thôi thúc để thốt lên hai tiếng “Xin vâng!” của riêng mình trước kế hoạch của Thiên Chúa! Tuy nhiên, dù có nhận rằng cuộc “Truyền tin cho Đức Maria là biến cố đánh dấu việc mở màn của ‘thời viên mãn,’”[10] thì cũng không phải qua chính biến cố này tín hữu mới có thể thấy rõ tỏ tường toàn bộ tiến trình về lòng tin của Đức Maria. Trước khi tiến vào ‘tháng thứ sáu’ trọng đại ấy, Đức Maria đã sống qua thời thơ ấu và niên thiếu của mình như là “thiếu nữ Xion tuyệt vời.”[11] Sứ thần đã chào mừng Đức Maria như là đấng đầy ân sủng, phản chiếu “ánh huy hoàng của sự thánh thiện hoàn toàn độc nhất vô nhị”[12] đã được trao ban cho ngài kể từ khoảnh khắc ngài bắt đầu hiện hữu trong lòng mẹ mình.
Tín điều về Đức Maria Vô nhiễm Nguyên tội đã được minh định hết sức minh bạch và cô đọng trong lời công bố như sau của Đức Giáo hoàng Piô IX:
Nhờ vào ân phúc đặc biệt của Thiên Chúa toàn năng, cũng như nhờ vào công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ nhân loại, mà ngay từ lúc mới tượng thai, Đức Nữ Rất thánh Đồng trinh Maria đã được gìn giữ cho khỏi vướng nhiễm mọi vết nhơ của tội nguyên tổ.[13]
Như thấy trong lịch sử, việc tập trung nhấn mạnh đến tình trạng Đức Maria được gìn giữ cho khỏi vướng nguyên tội, đã có xu hướng làm cho thiếu lưu tâm đến tình trạng thánh thiện hoàn toàn độc nhất vô nhị – mà Đức Maria đã nhận được do ân sủng Thiên Chúa – cùng với những ý nghĩa tích cực tình trạng ấy gợi lên. Bức Tông thư minh định tín điều Đức Maria Vô nhiễm Nguyên tội đã không quên nhắc đến khía cạnh ấy của mầu nhiệm này. Trong tình trạng được gìn giữ cho khỏi tội nguyên tổ, Đức Maria đã được phú ban ân sủng của Chúa Thánh Thần. Ngài được tuyên tôn là [đấng]:
tinh tuyền, và tinh tuyền về mọi mặt; trinh trắng và trinh trắng tuyệt bực; vô tì vết, và hoàn toàn vô tì vết; thánh thiện và sạch hẳn mọi vết nhơ tội lỗi; hoàn toàn trinh khiết, hoàn toàn thanh sạch, gương mẫu tuyệt bực về tình trạng trinh khiết và thanh sạch; xinh đẹp hơn cả cái đẹp, đáng yêu hơn cả cái đáng yêu, thánh thiện hơn cả sự thánh thiện, đặc biệt thánh thiện và tuyệt bực tinh tuyền trong linh hồn và thân xác; đấng trỗi vượt trên hết những gì là nguyên tuyền và đồng trinh; đấng duy nhất đã trở nên chốn cư ngụ của hết thảy mọi ân sủng xuất phát từ Thánh Thần Tối cao.[14]
Đức Maria được nhận là “niềm hãnh diện duy nhất của con người mang bản tính ô uế chúng ta.”[15] Về ngài, có người đã mô tả như sau: “Để có được một ý niệm toàn diện về ngài, thì không thể nào kết hợp làm một, hết thảy những gì cần quy gán [cho ngài] cùng với tất cả những gì cần phải loại bỏ [khỏi ngài].”[16]
Trong một đoạn viết, với một lối biểu đạt hết sức dễ hiểu, Đức Hồng y Pierre de Bérulle đã giúp làm sáng tỏ tầm trọng yếu có sức ảnh hưởng đến toàn bộ mầu nhiệm Đức Maria Vô nhiễm Nguyên tội. Theo Bérulle, có ba “thời kỳ” mà mọi con người đều phải trải qua trong cuộc đời mình, đó là: thời kỳ khởi đầu của tình trạng bản tính (được thụ thai), thời kỳ khởi đầu của tình trạng ân sủng (chịu phép rửa), và thời kỳ khởi đầu của đời sống ân sủng (có khả năng ứng thuận đối với tác động của ân sủng nơi một con người khi đã bước vào tuổi khôn).[17] Bérulle quả quyết cho rằng, trong mọi con người, ba thời kỳ ấy tồn tại hoàn toàn riêng biệt với nhau, và thường diễn ra cách nhau trong một quãng thời gian khá xa.
Tuy nhiên, nơi Đức Nữ trinh, ba thái trạng ấy được phối nhập làm một với nhau; tình trạng bản tính, tình trạng ân sủng và thời kỳ khởi đầu của đời sống ân sủng, cùng tác động ân sủng hướng về Thiên Chúa, đã được trao ban cho ngài một cách đồng thời, vào cùng một thời điểm.[18]
Nói cách khác, nhờ vào ân sủng của Thiên Chúa, cũng như dựa vào những công nghiệp về sau của Đức Giêsu Kitô, Đức Maria đã được tạo dựng, được đón nhận những ân huệ phép rửa, và được ban cho ơn khỏi vướng mắc “một tội riêng nào, suốt cả cuộc đời mình.”[19] Tín điều về Đức Maria Vô nhiễm Nguyên tội tỏ lộ cho thấy mầu nhiệm về những ân sủng đặc biệt, độc nhất vô nhị, được phú ban cho người nữ đã được tuyển chọn để làm mẹ Con Thiên Chúa Nhập Thể.
Vì Kinh Thánh vẫn giữ thái độ im hơi lặng tiếng – và có lẽ cũng vì Đức Maria đã chẳng nói gì về mình – nên không ai có thể hiểu hết được mọi điều về những năm tháng đầu đời của ngài. Bức màn thinh lặng bao phủ lên trên mầu nhiệm về lòng tin của Đức Maria, kéo dài từ khoảnh khắc đầu tiên ngài chào đời cho đến biến cố được lấy làm mốc điểm giúp lần theo quá trình hình thành và phát triển của lòng tin ấy. Có lẽ chính vì thế mà ở đây, cần phải nhờ đến một thứ trực giác – như Jean Guitton từng đề xuất – mới hầu nắm được nét đặc trưng vốn dĩ đã có từ trước nơi Đức Maria, và theo sát ngài trong từng bước đường ngài đi, từ thời điểm Truyền tin cho đến những giờ phút thương đau trên đồi Canvariô, lúc mà ngài “đã hoàn toàn trưởng thành cùng với quá trình mạc khải tiệm tiến của Lời.”[20] Guitton nhận định như sau: “Một trong những đặc nét đầu tiên dễ nhận ra nơi Đức Nữ trinh, khi ngài còn là một hài nhi, có lẽ là khả năng ‘lắng nghe và đặt câu hỏi’.”[21] Dựa vào khả năng ấy của Đức Maria, thì có thể thâu tóm được mầu nhiệm về lòng tin của ngài. Ngài đã lắng nghe, ngài đã đặt câu hỏi, và ngài đã tin. Khả năng ấy – lần đầu tiên được bộc lộ ra trong cuộc viếng thăm của sứ thần – đã tiếp tục thể hiện rõ vào mỗi giai đoạn có tính cách then chốt trong cuộc đời ngài.

II. T bin c Truyn tin cho đn cnh đi Thp giá
Mầu nhiệm về lòng tin của Đức Maria, xét từ biến cố Truyền tin cho đến giờ phút đứng dưới chân Thập giá, là một bức họa đan xen thành từ tranh tối lẫn tranh sáng, từ  những gì được nói lên lẫn những gì còn tiềm ẩn trong vòng thinh lặng. Tình trạng vô nhiễm nguyên tội của Đức Maria không hề miễn trừ việc ngài – dù được tuyên tôn như là đấng “đầy ân sủng,” thì cũng – phải sống qua kinh nghiệm đức tin của con người. Câu chuyện về kinh nghiệm sống đức tin ấy của Đức Maria đã được ghi lại trong Kinh Thánh. Ở đó, có thể đọc thấy được những lời do chính miệng ngài thốt ra hoặc những lời phát biểu về ngài. Ở đó, có thể nhận thấy được thái độ lặng thinh và trầm tư suy ngẫm trong lòng của Đức Maria.[22] Cùng với quá trình mạc khải tiệm tiến của Lời, sự hiểu biết và nhận thức của Đức Maria cũng được đào sâu thêm; ngài cũng trưởng thành lên trong khả năng quy hướng về với Thiên Chúa, khả năng đón nhận sự sống của Thiên Chúa nơi mình, và khả năng thuận theo ân sủng của Người. Đấng được ca ngợi là đầy ân sủng, cũng đã sống qua kinh nghiệm trưởng thành lên trong tình trạng gia tăng của ân sủng tràn đầy ấy, hằng cảm nghiệm thứ ân huệ không ngừng được trao ban của Chúa Thánh Thần và sức năng động [δύναμις] vĩnh cửu của quyền năng Đấng Tối cao trong cuộc đời mình.
Đánh dấu một khoảnh khắc trọng đại trong bước đường sống kinh nghiệm đức tin của Đức Maria, đoạn trình thuật về biến cố Truyền tin phải được ngẫm đọc dựa theo bối cảnh đời sống nội tâm của Đức Maria tính từ trước cho đến thời điểm diễn ra biến cố ấy. Hans Urs von Balthasar đã hùng hồn diễn tả về điều này như sau:
“Nơi Đức Maria [...], toàn bộ lòng tin của dân Ítraen, khởi đầu với lòng tin vốn chưa từng thấy của Abraham, được kết tụ thành một, một thứ lòng tin quy hướng về Đức Kitô và hằng giữ vai trò như là mẫu gương cho các kitô hữu. [...] Trong việc thiết lập Giao ước Mới, vốn là thứ Giao ước đã được minh nhiên khẳng định như là “thành tựu” của Giao ước Cũ, làm sao hết thảy mọi yếu tố vô cùng tích cực của Giao ước này lại không được kể đến? Làm sao Đức Kitô có thể đi vào lịch sử cứu độ mà lại không để tất cả những gì có tính cách tích cực như thế được trao ban cho mình qua Mẹ của Người? Rõ ràng là qua hành vi tuyên xưng trọn vẹn đức tin – biểu hiện tình trạng tự do dứt khoát, không chút dính bén với tội nguyên tổ – của Đức Maria, lòng tin của Abraham không những được quy kết lại, mà còn được làm cho trở nên siêu việt nữa...”[23]
Trong lời chào mừng của sứ thần, Đức Maria đã nhận ra được một thách đố và một lời mời gọi. Thách đố đặt ra cho ngài chính là việc ngài phải làm sao đó để lòng tin của mình được trỗi vượt lên trên lòng tin của Abraham, lòng tin của các thế hệ tiền nhân, lòng tin của dân Ítraen. Ngài được mời gọi đưa lòng tin của mình tiến vào một tình trạng thâm sâu mới mẻ, mặc lấy cho nó một phẩm chất mới lạ; và lòng tin ấy đã được thể hiện cả qua ý chí tuân phục của Đức Ma­ria, lẫn qua thái độ tin tưởng của ngài vào việc Thiên Chúa sẽ hoàn thành những gì Người đã hứa. Thánh Âugu­ti­nô đã miêu họa sinh động về khoảnh khắc truyền tin ấy như sau:
“Sứ thần loan tin, Đức Nữ trinh lắng nghe, tin tưởng, thụ thai,  tràn đầy niềm tin trong lòng, mang trọn Đức Kitô trong dạ.”[24]
“Tràn đầy lòng tin và thụ thai Đức Kitô trong tâm hồn trước khi mang thai Người trong lòng dạ, ngài đã thưa lên: ‘Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa; xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần báo’.”[25]
“Đức Maria đã tin, và điều ngài tin đã được thành tựu nơi ngài.”[26]
Vén mở cho thấy một khía cạnh trong mầu nhiệm về lòng tin của Đức Maria, đoạn trình thuật Truyền tin tự nó, chưa biểu đạt trọn vẹn mạc khải về mầu nhiệm này. Trong chuyến trẩy đi vội vã đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa, chắc hẳn Đức Maria đã trầm tư, suy ngẫm về biến cố ngài vừa sống qua. Lời chào đón của bà Êlidabét làm như gợi lại đìều thách đố và lời yêu cầu kia, cũng như xác nhận lại lời hứa và việc thành tựu lời hứa ấy, tức là những gì nói đến trong buổi Truyền tin. Là nữ tỳ yêu dấu của Đấng Tối cao, hiền thê trinh trong của Chúa Thánh Thần, người Mẹ tuyển chọn của người con rất thánh được gọi là Con Thiên Chúa, Đức Maria đã – một lần nữa – hân hoan bày tỏ thái độ đáp trả. Phản ánh thị kiến của các ngôn sứ,[27] niềm trông đợi của Ítraen,[28] lòng tín trung của Đấng Toàn năng,[29] khúc ca tán tụng của Đức Maria biểu lộ cho thấy rõ một thứ trực giác đức tin đã bước sang một giai đoạn tiến phát mới mẻ, bởi khả năng phục thuận Thiên Chúa nơi ngài đã thực sự gia tăng thêm hẳn.
Giai đoạn thứ hai trong tiến trình trưởng thành về lòng tin của Đức Maria được ghi lại trong các đoạn trình thuật về thời thơ ấu của Đức Giêsu. Các đoạn trình thuật này kể đến nhiều sự việc khác nhau, như: nỗi lao tâm khổ tứ của thánh Giuse trong những hoàn cảnh khó khăn chung quanh biến cố hạ sinh Đức Giêsu; cuộc tha hương lánh nạn sang Ai cập; những lời tiên tri của Simêon; biến cố Đức Maria lạc mất Con mình. Không kể đến những lời Đức Maria đã nói với Hài nhi, khi ngài và thánh Giuse tìm được Người trong đền thờ, thì những sự việc vừa nêu được khắc họa nên bằng chính thái độ giữ thinh lặng của Đức Maria, khi ngài ghi sâu và ngẫm suy trong lòng hết thảy những gì ngài đã nghe và chứng kiến.[30] Cùng lúc, phần lớn các sự việc ấy cũng được họa dệt giữa bóng tối đức tin phủ kèm với quá trình nhận thức từng bước về “hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong đó Con mình phải hoàn thành sứ mạng của Người giữa những hiểu lầm và khổ đau.”[31]
Thái độ “vâng phục trong đức tin[32] của Đức Maria – thể hiện qua lời ngài đáp trả với sứ thần – không chỉ thu hẹp vào trong khoảnh khắc Truyền tin. Nơi từng bước tiến trên con đường đức tin, vào mỗi thời điểm quan trọng đánh dấu sự hiểu biết và nhận thức rõ ràng hơn của ngài về sứ mạng Con mình và về phần đóng góp của mình vào sứ mạng ấy, Đức Maria cũng đã thể hiện được thái độ vâng phục của mình, một thái độ vâng phục mang cùng một tính cách trọn vẹn hệt như lúc đầu, khi ngài mới bước vào cuộc hành trình hướng về Thiên Chúa; và càng lúc, thái độ vâng phục ấy càng trở nên mới mẻ, vững vàng và sâu đậm thêm hơn. Thái độ vâng phục của Đức Maria là một đặc nét lộ hiện rõ mổn một trong mầu nhiệm về lòng tin của ngài vào một Đấng Thiên Chúa luôn có những đường lối khôn dò, những quyết định không thể hiểu thấu.[33] Thái độ vâng phục của Đức Maria trong đức tin – trong “ánh sáng lờ mờ” của đức tin, trong “đêm đen” đức tin – biểu thị tình trạng ngài phải chấp nhận trước khi sự việc xảy đến, hết thảy những gì đã được tiền định trong kế hoạch thần linh vốn chỉ được mạc khải trọn vẹn qua một quá trình tiệm tiến.
Thái độ vâng phục của Đức Maria đã trở thành một nét chủ đạo (leitmotiv) của những tháng năm ẩn dật ở Na­da­rét, là giai đoạn Đức Giêsu lớn lên về tuổi tác, tiến bộ vững vàng về mặt khôn ngoan và ân sủng, và là giai đoạn mà mẹ Người – “con người đầu tiên... khám phá Đức Kitô”[34] – trưởng thành thêm trong đức tin, càng lúc càng được tô điểm cho phong phú hơn nhờ lớn lên trong mọi ân sủng. Về điều này, tưởng có thể trưng dẫn lại ở đây lời của Đức Hồng y John Henry Newman tha thiết khuyên nhủ các kitô hữu hãy có thái độ kiên tâm bền chí trong đời sống và trong cuộc lữ hành đức tin mà các môn đồ Đức Kitô đã được mời gọi bước vào:
“Ước gì chúng ta coi mình có phúc khi – theo năm tháng dần trôi – chúng ta được ban thêm hết ân huệ này đến ân huệ khác, và khi – theo đà trưởng thành đi lên, qua từng bước một – chúng ta không có thái độ chểnh mảng đối với ân huệ thấp hơn sau khi đã nhận được ân huệ cao hơn, cũng như không tìm cách nhắm đến ân huệ cao hơn trước khi nhận được ân huệ thấp hơn. Ân huệ đầu tiên là đức tin, ân huệ cuối cùng là đức ái; nhiệt tâm đến trước, từ ái đến sau; khiêm hạ đến trước, an bình theo sau; chuyên cần có trước, rồi mới đến nhẫn nhục. Ước gì chúng ta học biết cách làm tăng triển mọi ân huệ trong chúng ta; hãy kính sợ và khiếp run, canh thức và hối cải, bởi Đức Kitô đang đến; hãy hân hoan, cảm tạ, và đừng lo lắng về tương lai, vì Người đã đến.”[35]
Quả thực, mầu nhiệm về lòng tin của Đức Maria cũng như cuộc lữ hành đức tin của ngài – không hề gợn một chút dấu vết nào của tội lỗi, vượt ra khỏi mọi giới hạn của vòng tội lụy – đã trở thành một thứ kiểu mẫu điển hình về cuộc hành trình thiêng liêng mà mọi môn đồ của Đức Kitô đều được mời gọi dấn bước vào. Có thể nói ngay mà không cần phải do dự rằng có một chiều kích Maria (Marian dimension) tồn tại ngay trong cuộc đời của mọi môn đồ Đức Kitô.[36]
Chiều kích Maria ấy lộ hiện lên trong các văn đoạn kinh thánh ghi lại các bước triển phát về sau nơi tiến trình mầu nhiệm về đời sống đức tin của Đức Maria. Theo dõi đoạn trình thuật về tiệc cưới Cana, thì có thể bắt gặp được hình ảnh của một Đức Maria đang mang nơi mình những hiểu biết và nhận thức mới mẻ – đã tiến đến một mức trưởng thành sâu xa hơn – nhờ vào kinh nghiệm sống ngài đã có với con mình suốt trong quãng thời gian ẩn dật ở Nagiarét. Những lời lẽ ngài thưa với Đức Giêsu mang tính cách đơn sơ, bộc trực, không cầu kỳ kiểu cách, và đượm đầy tin tưởng. Những chỉ dẫn ngài truyền cho các gia nhân giúp bàn cũng mang tính cách rõ ràng, dứt khoát, biểu lộ uy lực của một lòng tin kiên cường trước mọi bất trắc có thể dự kiến, cũng như cho thấy được niềm xác tín mà nhờ đó ngài đã có thể làm bừng dậy trong tâm hồn những người khác một thái độ cởi mở ứng đáp để đón nhận những hạt giống đức tin và lòng tuân phục cần phải có cho cuộc lữ hành [thiêng thiêng] của chính họ.
Thái độ bình thản của Đức Maria trước việc Đức Giêsu gọi ngài là ‘bà’, đã cho thấy một bước trưởng thành tiệm tiến của lòng tin nơi Đức Maria. Việc sử dụng từ ‘bà’ trong Ga 2:4 và Ga 19:2 – cùng với cách giải thích ám chỉ đến Đức Maria, trong Mc 3:35 và trong Lc 11:27-28 – không chỉ biểu thị một bước phát triển về đức tin của Đức Maria nhờ vào tiến trình mạc khải liên tục của Ngôi Lời cho ngài, mà còn nói lên một bước biến đổi trong mối quan hệ giữa ngài với Con mình. Đà phát triển và biến đổi này sẽ đạt đến đỉnh điểm của nó trên đồi Canvariô.
Đức Maria đã hiện diện dưới chân Thánh giá. Trên đồi Can­va­riô, ngài là tín hữu tuyệt thế. Nhìn vào Đức Giêsu, Đức Ma­ria thấy rằng thân xác treo trên Thập giá chính là thân xác Người đã nhận lấy từ nơi ngài.[37] Còn hơn cả thế, “qua đức tin, người Mẹ ấy đã dự phần vào cái chết của Con mình, vào cái chết có sức đem lại ơn cứu độ của Người...”[38] Thánh John Eudes thì nhắc đến “những nỗi thống khổ dày vò Trái tim của Đức Maria trong giờ phút Con ngài trải qua cuộc khổ nạn.”[39] Tiếng fiat – từng được thốt lên vào khoảnh khắc cực điểm của lòng tin ngài đặt vào Đức Kitô đang chờ đợi – khoảnh khắc đã trở thành điểm xuất phát cho toàn bộ hành trình đức tin của ngài[40] – đã bộc lộ được ý nghĩa trọn vẹn đến mức tuyệt đỉnh của nó qua thái độ thinh lặng của ngài trên đồi Canvariô:
“Như thế, Ðức Nữ trinh cũng đã tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin của mình, kiên trì giữ vững mối hiệp nhất với Con mình cho đến chân thập giá là nơi ngài đã đứng – theo kế hoạch của Thiên Chúa – để cùng chịu với Người Con duy nhất của mình nỗi thống khổ cực độ của Người, dự phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra.”[41]
Nếu nhận ra rằng “cuộc Khổ nạn của Đức Kitô không cốt nhiều ở những nỗi thống khổ Người đã gánh chịu, cho bằng ở việc Người bằng lòng gánh chịu chúng với một thái độ vâng phục trọn vẹn đối với Cha Người,” thì có thể sẽ dễ dàng hiểu được việc “mẹ và Con đã hiệp nhất với nhau đến mức độ nào trong Giờ đó.”[42]
Trên đồi Canvariô, lòng tin của Đức Maria hùng hồn biểu hiện qua thái độ lặng thinh. Dù vậy, Đức Giêsu đã thực sự lên tiếng. Những lời Người nói – hệt như một cuộc Truyền tin mới – đã gợi mở ra một thứ thách đố tột bực, một lời mời gọi mới mẻ, dành cho Đức Maria. Tâm hồn khả kính của Đức Maria đã hóa thành tâm hồn tông đồ của ngài.[43] Với lòng tin đã đạt đến độ chín mùi qua một quá trình trưởng thành dưới sự dẫn dắt của Thần Khí là Đấng tỏa rợp bóng trên ngài ở Nagiarét, toàn bộ con người của Đức Ma­ria đã trở thành một tiếng fiat, một thái độ hoàn toàn vâng phục trong đức tin; và đây “có lẽ là cuộc tự hủy trong đức tin (kenosis of faith) triệt để nhất trong lịch sử nhân loại.”[44]
“Như thế, nhờ thái độ vâng phục, nhờ lòng trông cậy và yêu mến nồng nàn của mình, Đức Maria đã đặc biệt cộng tác vào công trình của Đấng Cứu độ để phục hồi sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy, trên bình diện ân sủng, Ngài đích thực là Mẹ chúng ta.”[45]
Vì Đức Maria là mẹ các tín hữu trên bình diện ân sủng, nên mầu nhiệm về lòng tin của ngài mang lấy một ý nghĩa đặc biệt khi mà Giáo hội đang dấn bước trong cuộc lữ hành tiến vào giai đoạn khởi đầu của Thiên kỷ thứ Ba.

III. Hưng đn bình minh Thiên k th Ba
Lòng tin của Đức Maria để lộ rõ tầm trọng yếu và ý nghĩa đặc biệt của nó đối với Giáo hội và đối với thế giới, khi tín hữu để tâm suy ngẫm về mầu nhiệm này dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, trong giai đoạn Giáo hội chuẩn bị tiến vào năm 2000. Trong tiêu đích này, bài viết sẽ bàn về lòng tin của Đức Maria theo các sắc thái kinh thánh, giáo hộicánh chung.
Lòng tin của Đức Maria là dạng đức tin mang bản chất kinh thánh. Lòng tin ấy lộ hiện lên trong và qua Lời mạc khải của Thiên Chúa. Đem đối chiếu, thì có thể thấy rằng lòng tin của Đức Maria là điểm tuyệt đỉnh của – thậm chí còn vượt trỗi lên trên – lòng tin nơi Abraham.[46] Tuy nhiên, xem xét tước hiệu “Evà mới” của ngài, ắt tín hữu sẽ có thể nắm bắt được trọn vẹn nhất ý nghĩa phản ánh bản chất kinh thánh nơi lòng tin của Đức Maria.[47] John Henry Newman đã cất công thâu thập các bằng chứng có từ những thời sơ khai, liên quan đến kiểu so sánh đối chiếu ấy; đây là kiểu đối sánh mà các Giáo phụ đã dùng đến, là giáo lý mà các ngài đã nhận được từ các thế hệ kitô hữu tiền bối, và tiếp tục chuyển trao lại cho các thế hệ nối gót theo mình.[48]
Newman đã kể ra rất nhiều nhân chứng khác nhau sống trong mọi miền xứ – từ Phi châu đến Rôma; từ Paléttin, tiểu Á, đến Gaul; từ Syria, Ai cập, đến Cyprus – nhằm bênh vực cho lập trường nhìn nhận Đức Maria như là “Eva mới.” Dẫn ra trường hợp của thánh Irênê – người được Pôly­cáp hướng dẫn để đến với đức tin – Newman đã tập trung chú ý đến truyền thống Gioan là truyền thống mà vị Giáo phụ này chủ trương bênh vực.[49] Coi Đức Maria như là “Evà mới,” các tác giả thuộc truyền thống này đã chú tâm nêu bật lên nét tương phản giữa lòng tin của Đức Maria với thái độ thiếu lòng tin của Evà, giữa thái độ vâng phục của Đức Maria với thái độ bất tuân phục của Evà, giữa những hoa trái của ân sủng nơi Đức Maria với tình trạng bị tước mất các đặc ân nơi Evà do tội:
“Nếu Evà là nguyên nhân gây ra cảnh diệt vong cho tất cả, thì Maria lại là nguyên nhân đem đến ơn cứu chuộc cho hết thảy...; nếu Evà mở lối làm cho Ađam sa ngã, thì Maria lại dọn đường cho công cuộc đền chuộc của Chúa chúng ta;... nếu Evà đã góp phần vào việc gây ra một sự dữ khủng khiếp, thì Maria đã cộng tác vào việc đưa đến một sự thiện còn vĩ đại hơn nhiều.”[50]
Cách kiểu đối chiếu này được đặt nền tảng trên giáo huấn của thánh Phaolô về Đức Kitô – Ađam mới[51] – và dựa vào tình trạng hiện diện của Đức Maria “trong mầu nhiệm Đức Kitô vào mỗi một bước tiến lên trong cuộc hành trình trần thế của ngài.”[52] Quả thực, bản chất kinh thánh phản ánh vai trò của Đức Maria như là Evà mới, đã lộ hiện hết sức rõ ràng từ thái độ thinh lặng của ngài dưới chân Thánh giá, và làm dội lại “với âm hưởng tuyệt mức hùng hồn” những lời bà Êlidabét đã thốt lên sau cuộc Truyền tin. “Bức tranh toàn cảnh về những ơn phúc do lòng tin ấy, sáng hiện lên và rạng tỏa ra từ Thập giá, tức là từ tâm điểm của mầu nhiệm Cứu chuộc.”[53] Chiều kích kinh thánh về lòng tin của Đức Maria đã trung thành phản ánh được mọi đường nét uyển chuyển khắc họa nên bức tranh mầu nhiệm về cuộc lữ hành của Đức Maria.
Lòng tin của Đức Maria cũng là dạng loại đức tin mang bản chất giáo hội. Mầu nhiệm về bản chất giáo hội nơi đức tin của Đức Maria đặt nền tảng trên sự hiện diện của ngài “trong tư cách là chi thể hoàn toàn có một không hai của Giáo Hội... là mẫu mực, là gương sáng phi thường của Giáo Hội về đức tin và đức ái,... [và] là một người Mẹ rất mực dấu yêu.”[54] Chi thể của Giáo hội, Đức Maria là người đầu tiên đón nhận mọi ân sủng cứu độ mà Đức Giêsu Kitô mang đến cho hết thảy mọi người, thuộc mọi thời đại. Mẫu mực và gương sáng của Giáo hội, Đức Maria là người đầu tiên đã tin nhận và bước theo Chúa trong tư thế là một môn đồ, “một cộng tác viên quảng đại, một nữ tỳ khiêm hạ,” và “như là mẫu gương của mọi nhân đức.” Qua Đức Maria, “Giáo hội đã đạt đến mức toàn thiện của mình, sống trong tình trạng tinh tuyền, không tỳ không vết .”[55]
Một cách ưu việt, Đức Maria là mẹ Giáo hội. Địa vị mẫu hệ trên bình diện ân sủng – tức vai trò làm mẹ Đức Kitô toàn thể – của Đức Maria, đâm rễ vào và xuất phát từ địa vị mẫu hệ của ngài đối với Ngôi Lời Nhập thể, Đức Giêsu Kitô. Xét ở một số khía cạnh nào đó, theo kết quả nhắm đến của nó, thì địa vị mẫu hệ song đôi ấy chỉ là một:
          Bởi nhờ ngài,
          Người đã mặc phận người:
          Được sinh hoài và luôn luôn mới,
          Nhưng mầu nhiệm diệu kỳ khôn với,
          Giờ đây, mặc tinh thần, chứ chẳng phải xác phàm
          Ôi, diệu kỳ! Việc chính tay Người làm:
          Tạo giữa chúng ta những làng Nadarét mới,
          Nơi cả sáng, cả trưa, lẫn tối,
          Ngài vẫn tiếp tục thụ thai Người;
          Và tạo ra những hang Bêlem mới,
          Nơi Người tiếp tục được hạ sinh,
          Lúc tối chiều, trưa xế, hay bình minh...
          Đấng đã được sinh ra như vậy,
          Đang hóa thành con người mới tôi đây,
          Làm tôn thêm muôn phần cao vợi,
          Nét con người trong mỗi con người;
          Khi hoàn tất trọn mọi điều như vậy,
          Người làm cho hết thảy mọi người đây 
          Nên con Thiên Chúa, lẫn con Đức Bà.[56]
“‘Địa vị làm mẹ’ Giáo hội của Đức Maria, phản ánh và mở rộng địa vị làm mẹ Con Thiên Chúa của ngài.”[57]
Tiềm tàng trong cả hai phương diện – phản ánh tính chất giáo hội – nơi địa vị mẫu hệ thần linh của Đức Maria, còn có một chiều kích phổ quát, một thứ chiều kích bao trọn toàn thể nhân loại và phủ trùm lên trên toàn bộ lịch sử loài người. Như thế, rốt cuộc, lòng tin của Đức Maria cũng là một thứ đức tin mang tính chất cánh chung. Liên quan đến tính chất cách chung mà lòng tin của Đức Maria nêu rõ, có ba khía cạnh cần được khảo xét: khía cạnh kitô học, giáo hội học, và nhân loại học.
Khía cạnh kitô học nơi lòng tin mang tính chất cách chung của Đức Maria, lộ hiện từ khoảnh khắc “Đức Maria được dứt khoát mời gọi tiến vào mầu nhiệm của Đức Kitô,” lúc diễn ra biến cố Truyền tin.[58] Phúc phận (blessedness) của Đức Maria cũng chính là dạng ân phúc thiêng liêng được tuôn ban trên hết mọi dân tộc, cho đến tận cùng thời gian, qua Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập thể của Thiên Chúa. Qua mầu nhiệm Nhập thể, lời Thiên Chúa hứa ban ơn cứu độ trở thành hiện thực trong một khoảnh khắc đánh, đã dấu thời viên mãn.[59] Ơn cứu độ được hứa ban cho hết thảy nhân loại, đã được hoàn tất trước nơi Đức Maria, nhờ vào công nghiệp về sau của Con ngài, Chúa Giêsu Kitô. Qua Đức Maria, Đấng Cứu độ nhân loại đã mặc lấy xác phàm, được sinh ra trong thế gian, để thực hiện công trình cứu độ của Người. Sau nữa, khía cạnh kitô học nơi lòng tin mang chiều kích cánh chung của Đức Maria, còn được thể hiện qua tình trạng thông phần và tham dự của ngài vào mầu nhiệm Vượt qua của Con mình.
Xuất hiện tiếp liền sau cuộc Tử nạn và Phục sinh của Đức Kitô, khía cạnh giáo hội học – phản ánh chiều kích cánh chung – nơi lòng tin của Đức Maria, giúp tín hữu tiến vào khung cảnh phòng Tiệc ly, vào quãng thời gian giữa cuộc Thăng thiên và Hiện xuống. “Nơi phòng Tiệc ly, cuộc hành trình của Đức Maria và cuộc hành trình đức tin của Giáo hội đã gặp nhau.”[60] Trong sứ mạng Đức Giêsu đã trao phó cho Giáo hội của Người, nơi phòng Tiệc ly, Đức Maria – Trinh Nữ và là Mẹ – hiện diện trước mắt Giáo hội theo những tư thế mới mẻ, như là: “một chứng nhân đặc biệt cho mầu nhiệm Đức Kitô, một mẫu gương về cuộc lữ hành đức tin của toàn thể tín hữu kitô,”[61] một con người có tâm hồn nhiệt thành cầu nguyện.[62] Nhờ thái độ vâng phục của mình, Đức Maria đã trở thành mẫu gương, cho hết thảy mọi thời đại, về đức tin, đức ái, và tình trạng kết hiệp trọn vẹn với Đức Kitô.[63] Trong Đức Maria, Giáo hội hiện diện ở tình trạng toàn thiện như là Hiền thê xinh đẹp lộng lẫy và không tỳ ố của Đức Kitô.[64]
Sự hiện diện của Đức Maria trong Giáo hội, vai trò làm Mẹ Giáo hội của ngài, và phần thông dự của ngài vào trong sứ mạng của Giáo hội, đã làm lộ hiện rõ khía cạnh nhân loại học nơi lòng tin mang chiều kích cánh chung của Đức Maria. Công trình cứu độ của Đức Giêsu đã làm cho nhận ra một sứ mạng phổ quát bao trọn toàn thể nhân loại. Trưởng thành lên trong bước đường lữ hành đức tin từ cuộc Truyền tin cho tới biến cố Canvariô, Đức Maria đã dự phần vào sứ mạng mang chiều kích phổ quát ấy. Chính ngài là người phải có mặt để trợ giúp “cho mọi cá nhân, mọi cộng đoàn, cho các quốc gia và dân tộc, cho các thế hệ cùng các thời đại lịch sử con người...”[65] Vai trò của ngài mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt, khi Giáo hội đang khởi sự dấn bước tiến vào Thiên kỷ thứ Ba.
Hình ảnh Đức Maria lộ hiện rõ ràng trước mắt toàn thể cộng đồng nhân loại, khi Giáo hội tiến bước vào năm 2000. Vào thời điểm này, khi Giáo hội đặc biệt kêu cầu Chúa Thánh Thần ban ơn hướng dẫn cho công cuộc chuẩn bị nhắm đón sự kiện ấy, thì vai trò của Đức Maria lại trở nên đặc biệt hơn bao giờ hết. Nhờ bóng phủ tỏa rợp của Chúa Thánh Thần, ngài đã thụ thai Ngôi Lời Nhập thể. Được dẫn dắt nhờ sự hiện diện ưu việt và vĩnh cửu của Chúa Thánh Thần, được tô điểm cho phong phú với những ân sủng có một không hai, được chúc phúc nhờ thái độ đặt trọn niềm tin vào lời truyền tin của sứ thần, Đức Maria đã sống suốt cuộc đời với tâm lòng cởi mở và vâng phục đối với Chúa Thánh Thần. Suốt trong quãng thời gian chuẩn bị tiến vào Thiên kỷ thứ Ba, Giáo hội mời gọi tín hữu chiêm ngắm những hoa trái thiêng liêng đơm kết dồi dào nơi mầu nhiệm về lòng tin của Đức Maria như là ân huệ tuyệt đỉnh và vĩnh cửu Chúa Thánh Thần đã ban cho ngài trong cả cuộc đời. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thiết tha kêu mời tín hữu kitô để tâm chiêm ngắm và bắt chước Đức Maria,
“trước hết, như là người nữ đã có thái độ ngoan ngoãn vâng nghe tiếng của Thần Khí; như là người nữ biết thinh lặng và để ý lưu tâm; như là người nữ của lòng trông cậy và, hệt như Abraham, là người đã đón nhận thánh ý Thiên Chúa với “lòng trông cậy dù không còn gì để cậy trông vào” (x. Rm 4:18). Đức Maria là hình ảnh phản chiếu trọn vẹn niềm trông cậy sống động nơi những người nghèo của Giavê Thiên Chúa, và là một gương mẫu sáng chói của những ai biết đặt trọn tâm hồn mình vào những lời Thiên Chúa hứa.[66]
Mầu nhiệm về lòng tin của Đức Maria cũng lộ hiện nổi bật trong một văn đoạn cuối cùng của Kinh Thánh.[67] Đứng trong tư thế chiến thắng, mình khoác mặt trời, được tán dương như là trinh nữ, là mẹ, là môn đồ, là , Đức Maria song song tiến bước cùng với “cuộc mạc khải về kế hoạch Thiên Chúa cứu độ dành cho nhân loại”; ngài đã đi trước Giáo hội để nhờ đó mà cùng hiện diện và đồng hành với Giáo hội trong cuộc lữ hành trần thế tiến vào buổi bình minh của Thiên kỷ thứ Ba và, vượt xa hơn thế nữa, tiến đến đích điểm chung cuộc và cao trọng là ngày Chúa quang lâ

Tuấn Anh trình dịch

 
[1] Nữ tu Dòng Nữ tỳ Thánh Tâm Đức Mẹ (SSCM) – tác giả bài viết bằng tiếng Anh, tựa đề “Mary’s Fai­t­h­: The Supreme, Abiding Gift of the Holy Spirit,” đăng trong tạp chí Communio 25 (Summer 19­9­8) – là gi­áo sư danh dự của Munde­lein Seminary of St.Mary of Lake University.
[2]Thánh Truyền chứa đựng Lời Thiên Chúa mà Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần đã ủy thác cho các tông đồ, và trọn vẹn lưu truyền cho những người kế nhiệm các ngài để, nhờ Thần Khí chân lý soi sáng, họ có thể trung thành ra sức gìn giữ, giải thích, và phổ biến rộng rãi qua công tác rao giảng của mình” (Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (= GLCG), số 80, trưng dẫn Hiến chế Tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa, số 9.
[3] Các văn đoạn này bao gồm: các đoạn trình thuật về thời thơ ấu, trong Mát­thêu (1:1-2:23) Luca (1:5–2:51; 3:23-38); các đoạn trình thuật trong Tin Mừng Gioan, ghi lại sự việc Đức Maria hiện diện ở Cana (2:1-11) và trên Canvariô (19:25-27); khung cảnh trong phòng Tiệc ly (Cv 1:14), và lời phát biểu của thánh Phaolô trong Galát 4:4-5.
[4] Về những gì “gián tiếp” ám chỉ đến Đức Maria, xin xem: St 3:15; Is 7:14; Mk 5:2-3; Mc 3:35; Lc 11:27-28; Kh 12, cũng như những hình ảnh và nhân vật mang hình bóng Đức Maria.
[5] Xem GLCG, số 1124, trưng dẫn Hiến Chế Dei Verbum, số 8.
[6] Xem GLCG, số 638.
[7] Marc Ouelle, P.S.S., đã vắn tắt trình bày về quá trình này trong “Jesus Christ, the One Savior of the World, Yesterday, Today and Forever,” 24 Communio (Summer 1997) 231.
[8] Tông thư Tiến vào Thiên kỷ thứ Ba (=TM), 44.
[9] Xem Lc 1:26-38.
[10] Xem GLCG, số 484; Gl 4:4.
[11] Xem GLCG, số 489.
[12] Hiến chế Tín lý về Giáo hội (=LG), số 56.
[13] Tông thư Ineffabilis Deus, 1854, được trưng dẫn trong GLCG, số 491.
[14] Ibid.
[15] William Wordsworth, “The Virgin,” trong Our Lady in Poetry, Walter E. Croarkin biên soạn (Chicago: The John Maher Printing Company, 1940), 102.
[16] John Henry Newman, “The Reverence Dute to the Virgin Mary,” trong Parochial and Plain Sermons (San Francisco: Ignatius Press, 1987), 311.
[17] Nguyên văn câu viết của Bérulle: usage et mouvement de la grâce qui n’appartient qu’au temps du premier usage de la raison.”
[18] Pierre de Bérulle, “Que la Vierge est vie et de sa vie intérieure et extérieure,” trong Oeuvres Complètes, tập 3, Oeuvres de Piété (1-165), do Michel Dupuy biên soạn (Paris: Les Editions du Cerf, Oratoire de Jésus, 1995) 394, số 144.
[19] Xem GLCG, số 492-93.
[20] Ouellet, “Jesus Christ,” 231.
[21] Jean Guitton, The Virgin Mary, A. Gordon Smith dịch (New York: P.J. Kenedy & Sons, 1952), 17.
[22] Xem Lc 2:19.
[23] “Mary – Church – Office,” Communio (Spring 1996), 192-93.
[24] Thánh Âugutinô, bài giảng 196, trong Sermons on the Liturgical Seasons, nữ tu Mary Sarah Muldowney, R.S.M., dịch (New York: Fathers of the Church, Inc., 1959), 44-45, số 1.
[25] Bài giảng 215, Sermons on the Liturgical Seasons, 145, số 4.
[26] Bài giảng 218, Sermons on the Liturgical Seasons, 168, số 10.
[27] Xem Is 61:10.
[28] Xem Tv 113:7; 103:17; 138:6; G 5:12; Tv 75:8.
[29] Xem Tv 107:9; 98:3; Is 41:9; St 13:15; 22:18.
[30] Xem Lc 2:19.
[31] Thông điệp Redemptoris Mater (= RM: “Mẹ Đấng Cứu Độ”), số 32.
[32] Xem RM, số 27.
[33] Xem Rm 11:33.
[34] Xem RM, các số 34-35.
[35] John Henry Newman, “Equanimity,” trong Parochial and Plain Sermons (San Francisco: Ignatius Press, 1987), 996.
[36] Xem RM, 98-99.
[37] Thánh Âugutinô, bài giảng 218, Sermons on the Liturgical Seasons, 168, số 10.
[38] Xem RM, số 38.
[39] Thánh John Eudes, The Admirable Heart of Mary, C. de Targiani và R. Hauser dịch (New York: P.J. Kennedy & Sons, 1948), 99.
[40] Xem RM, các số 28-29.
[41] Xem LG, số 58.
[42] Jean Guitton, The Virgin Mary, 45.
[43] “Tâm hồn khả kính của Đức Maria” là cách gọi của thánh John Eudes (thế kỷ 17). “Tâm hồn tông đồ của Đức Maria” là cách gọi của Francis Mary-Paul Libermann, C.S.Sp. (thế kỷ 19). Cả hai tác giả này đều đi theo truyền thống Tu đức Pháp hồi thế kỷ mười bảy.
[44] Xem RM, số 36.
[45] Xem LG, số 61.
[46] Xem chú thích số 23 ở trên.
[47] Xem LG, số 56; RM, số 19.
[48] John Henry Newman, The New Eva (Westminster, Maryland: Newman Press, 1952).
[49] Ibid., 14-22; Newman kể đến thánh Giútxtinô, Téctulianô, thánh Irê­nê, thánh Cyrilô thành Giêrusalem, thánh Épraem Syprô, thánh Êpiphaniô, thánh Giêrônimô, thánh Âugutinô, thánh Phêrô Crysôlôgô, và thánh Fulgentiô thành Ruspe; thánh Baxiliô, thánh Gioan Kim khẩu, và thánh Cyrilô thành Alêxandria; xin cũng xem các trang 95-96 để có một danh sách tham khảo đầy đủ.
[50] Ibid., 16.
[51] Xem Rm 5:12:19.
[52] Xem RM, 19.
[53] Ibid.
[54] Xem LG, số 53.
[55] Ibid., số 65, trưng dẫn Ep 5:27.
[56] Gerard Manley Hopkins, “The Blessed Virgin Compared to the Air We Breathe,” trong Poems and Prose of Gerald Manley Hopkins, W. H. Gardner giới thiệu và chú thích (Baltimore: Penguin Books, 1953), 56.
[57] Xem RM, số 24; trưng dẫn thánh Lêô Cả, Tractatus 26 de natale Domini, 2: CCL 138, 126.
[58] RM, số 8.
[59] Xem Gl 4:4.
[60] Xem RM, số 26.
[61] Ibid., số 27.
[62] Xem ibid., các số: 28, 30, 26.
[63] Xem ibid., số 5.
[64] Xem LG, số 65; Ep 5:27.
[65] Xem RM, số 52.
[66] Xem TM, số 48.
[67] Ibid., số 46; Kh 12.

Donnerstag, Februar 23, 2012

Bài Giáo Lý của ĐTC Bênêđictô XVI về Bốn Mươi Ngày Mùa Chay
Phaolô Phạm Xuân Khôi2/23/2012


“Thời gian ở trong hoang địa có thể biến thành một thời gian ân sủng”

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý về bốn mươi ngày Mùa Chay của ĐTC Bênêđictô XVI ban hành trong buổi triều yết chung ngày Thứ Tư mùng 22 tháng 2 năm 2012 tại Đại Sảnh Phaolô VI.
* * *
Anh chị em thân mến,

Trong bài Giáo Lý này tôi muốn suy niệm ngắn gọn về Mùa Chay, bắt đầu ngày hôm nay với Phụng Vụ Thứ Tư Lễ Tro. Đó là một cuộc hành trình bốn mươi ngày dẫn chúng ta vào Tam Nhật Thánh, tưởng nhớ cuộc Khổ Nạn, Cái Chết và Sự Phục Sinh của Chúa, là trọng tâm của mầu nhiệm cứu độ của chúng ta. Trong những thế kỷ đầu của Hội Thánh, đây là thời gian mà những người đã nghe và chấp nhận sứ điệp của Chúa bắt đầu bước từng bước trên cuộc hành trình đức tin và hoán cải để đạt đến bí tích rửa tội. Đó là một cách tiếp cận Thiên Chúa hằng sống và gia nhập vào đức tin, là điều được thực hiện dần dần, qua một sự hoán cải nội tâm của những người dự tòng, nghĩa là những người muốn trở thành Kitô hữu và được tháp nhập vào Đức Kitô trong Hội Thánh.

Tiếp theo là các hối nhân và sau đó tất cả các tín hữu được mời để cảm nghiệm cuộc hành trình canh tân tinh thần này, để làm cho đời sống của họ được đồng hình đồng dạng hơn với chính đời sống của Đức Kitô. Việc tham gia của cộng đồng trong những bước khác nhau của cuộc hành trình Mùa Chay nhấn mạnh một chiều kích quan trọng của linh đạo Kitô giáo: ơn cứu chuộc không phải là cho một số người, nhưng cho tất cả, có thể có được nhờ cái chết và sự sống lại của Đức Kitô. Vì vậy, cả những người đi trên cuộc hành trình đức tin như những người dự tòng để lãnh nhận bí tích rửa tội, và những người đã lạc xa Thiên Chúa và cộng đồng đức tin và những người tìm kiếm hòa giải, hoặc những người sống đức tin của họ trong sự hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh. Tất cả đều cùng nhau biết rằng thời gian trước lễ Phục Sinh là một thời gian để metanoia (hoán cải), tức là thay đổi nội tâm, ăn năn hối cải. Nó là thời gian xác định cuộc sống con người và toàn bộ lịch sử của chúng ta như một tiến trình hoán cải được bắt đầu ngay bây giờ để gặp Chúa trong ngày sau hết.

Với một cách diễn tả điển hình trong Phụng vụ, Hội Thánh gọi thời kỳ mà chúng ta đang bước vào hôm nay là "Mùa Chay", là thời gian bốn mươi ngày, mà Thánh Kinh nói đến rõ ràng, giới thiệu chúng ta vào một bối cảnh tinh thần cụ thể. Thực ra, bốn mươi là con số biểu tượng mà qua đó Cựu Ước và Tân Ước trình bày những điểm nổi bật của kinh nghiệm đức tin của dân Thiên Chúa. Nó là một con số diễn tà thời gian chờ đợi, thanh tẩy, trở về với Chúa, ý thức rằng Thiên Chúa trung thành với các lời hứa của Ngài. Con số này không phải là một thời gian theo thứ tự chính xác, được đánh dấu bời tổng của những ngày. Thay vào đó, nó ám chỉ một sự kiên trì nhẫn nại, một cuộc thử thách lâu dài, một thời gian dài đủ để thấy các công trình của Thiên Chúa, một thời gian cần thiết để quyết định chấp nhận trách nhiệm của mình mà không trì hoãn thêm. Nó là thời gian của những quyết định trưởng thành.

Số bốn mươi xuất hiện đầu tiên trong lịch sử ông Nôe. Người công chính này, vì trận hồng thủy đã ở trong tàu bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, cùng với gia đình ông và các thú vật mà Thiên Chúa đã truyền cho ông đem lên với ông. Sau trận hồng thủy, ông phải chờ đợi bốn mươi ngày nữa trước khi xuống đất liền, được cứu khỏi bị tiêu diệt (xem St 7:4.12; 8:6). Sau đó, bước tiếp theo: Ông Môsê đã ở lại trên núi Sinai, trong sự hiện diện của Chúa, bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, để nhận Lề Luật. Ông ăn chay trong suốt thời gian này (x. Xh 24:18). Bốn mươi năm là thời gian hành trình của dân Do Thái từ Ai Cập về Đất Hứa, và thời gian để cảm nghiệm lòng trung thành của Thiên Chúa. Ông Môsê đã nói trong Đệ Nhị Luật vào cuối của bốn mươi năm di dân rằng: "Anh em hãy nhớ lại đoạn đường dài trong hoang địa mà Đức Giavê, Thiên Chúa của anh em, đã dẫn anh em đi suốt bốn mươi năm... Trong bốn mươi năm ấy, quần áo anh em đã không tả tơi, và chân anh em đã không xưng lên" (Đnl 8:2.4). Những năm thanh bình mà dân Israel được hưởng dưới quyền các Thủ Lãnh là bốn mươi năm (x. TL 3:11,30), nhưng, sau khi thời gian này qua đi, họ bắt đầu quên những hồng ân của Thiên Chúa và phạm tội trở lại. Ngôn sứ Êlia phải đi bốn mươi ngày để đến Núi Horeb, ở đó ông gặp Thiên Chúa (x. 1 V 19,8). Bốn mươi cũng là những ngày trong đó dân thành Nineveh làm việc đền tội để được Thiên Chúa tha thứ (x. Gn 3,4). Bốn mươi năm cũng là thời gian cai trị của vua Saulê (x. Cv 13:21), Đavid (x. 2 Sam 5:4-5) và Solomon (x. 1 V 11:41), ba vị vua đầu tiên của Israel. Ngay cả các Thánh Vịnh trong Thánh Kinh cũng phản ánh về ý nghĩa của bốn mươi năm, chẳng hạn như Thánh Vịnh 95, mà chúng ta vừa nghe: ”Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: ”Các ngươi chớ cứng lòng như tại Meriba, như ngày ở Massa trong hoang địa, nơi tổ phụ các ngươi đã từng thách thức và dám thử thách Ta, dù đã thấy những việc Ta làm. Suốt bốn mươi năm dòng giống này làm Ta chán ngán, Ta đã nói: đây là dân tâm hồn lầm lạc, chúng nào biết đến đường lối của Ta” (câu 7c-10).

Trong Tân Ước, trước khi bắt đầu cuộc đời công khai của Người, Chúa Giêsu đã lui vào hoang địa bốn mươi ngày mà không ăn uống gì cả (x. Mt 4.2): Người được nuôi bằng Lời Chúa, mà Người sử dụng như vũ khí để chiến thắng ma quỷ. Những cám dỗ của Chúa Giêsu nhắc lại những gì những dân Do Thái phải đối diện trong hoang địa, nhưng họ đã không thể thắng vượt. Bốn mươi là những ngày mà trong đó, Chúa Giêsu Phục Sinh dạy dỗ các môn đệ, trước khi lên Trời và gửi Chúa Thánh Thần xuống (x. Cv 1:3).

Con số bốn mươi được lập lại nhiều lần này mô tả một bối cảnh tinh thần vẫn còn thích đáng và có giá trị, và Hội Thánh, chính qua những ngày này của Mùa Chay, sẽ duy trì giá trị lâu dài của nó và làm cho hiệu quả của nó hiện diện với chúng ta. Phụng vụ Kitô giáo của Mùa Chay có ý tạo điều kiện thuận lợi cho một cuộc hành trình canh tân tinh thần trong ánh sáng của kinh nghiệm Thánh Kinh dài này và đặc biệt là cho việc học theo gương Chúa Giêsu, là Đấng đã trải qua bốn mươi ngày trong hoang địa và dạy chúng ta thắng cám dỗ bằng Lời Chúa. Bốn mươi năm lang thang nơi hoang địa diễn tả những thái độ và tình trạng mâu thuẫn. Một đàng, chúng đại diện cho mùa của mối tình đầu với Thiên Chúa, và giữa Thiên Chúa cùng dân Ngài khi Ngài nói với con tim của họ và luôn luôn chỉ đường đi cho họ. Do đó, có thể nói được rằng Thiên Chúa đã thiết lập một chỗ cư ngụ giữa dân Israel, Ngài đi trước họ trong đám mây hoặc cột lửa, đảm bảo thực phẩm cho họ mỗi ngày bằng cách làm cho manna rơi xuống và cho nước vọt ra từ tảng đá. Vì vậy, những năm mà dân Israel trải qua trong hoang địa, có thể được coi như thời gian tuyển chọn đặc biệt của Thiên Chúa và gắn bó của dân Israel với Ngài: thời gian của mối tình đầu. Đàng khác, Thánh Kinh cũng cho thấy một hình ảnh về cuộc lang thang của dân Israel trong hoang địa là thời gian cám dỗ lớn lao và nguy hiểm nhất, khi dân Israel lẩm bẩm kêu trách Thiên Chúa của họ cùng muốn quay trở lại với ngoại giáo và xây dựng các thần tượng riêng của họ, vì họ cảm thấy cần phải thờ phượng một Thiên Chúa gần gũi và hữu hình hơn. Đó cũng là thời gian nổi loạn chống lại Thiên Chúa cao cả và vô hình.

Chúng ta cũng tìm thấy điều mâu thuẫn này, thời gian gần gũi đặc biệt với Thiên Chúa – mối tình đầu - và thời gian của cám dỗ - cám dỗ trở lại với ngoại giáo – một cách đáng ngạc nhiên trong cuộc hành trình dương thế của Chúa Giêsu, đương nhiên là không có bất kỳ thỏa hiệp nào với tội lỗi. Sau khi chịu phép rửa thống hối ở sông Giodăng, Chúa Giêsu gánh lấy thân phận Người Tôi Tớ của Thiên Chúa, Người hy sinh chính mình để sống cho những người khác, và tự đặt mình giữa những người tội lỗi để gánh lấy tội lỗi của thế gian. Người đã vào hoang địa bốn mươi ngày để sống trong sự kết hợp sâu xa với Chúa Cha, như thế Người lặp lại lịch sử của dân Israel, tất cả những nhịp điệu của bốn mươi ngày hoặc bốn mươi năm mà tôi đã nói đến. Sự năng động này là một sự không thay đổi trong cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu, Người luôn tìm kiếm những giờ phút cô tịch để cầu nguyện với Cha Người và ở lại trong sự hiệp thông mật thiết với Ngài, trong sự cô tịch thân mật với Ngài, trong sự hiệp thông độc nhất với Ngài, để sau đó trở lại giữa đám đông. Tuy nhiên, trong thời gian "hoang địa" này và cuộc gặp gỡ đặc biệt với Đức Chúa Cha, Chúa Giêsu có nguy cơ bị tấn công bằng những cám dỗ và quyến rũ của Quỷ Dữ, là kẻ cung cấp cho Người một cách làm thiên sai khác, tách rời kế hoạch của Thiên Chúa, bởi vì đạt được nhờ quyền bính, sự thành công và sự thống trị chứ không phải qua món quà tự hiến hoàn toàn trên Thánh Giá. Đây là hai cách khác nhau: một thiên sai quyền bính và thành công, hoặc một thiên sai của tình yêu, món quà của tự hiến.

Trạng thái mâu thuẫn này cũng mô tả thân phận của Hội Thánh lữ hành trong “hoang địa” thế gian và lịch sử. Trong "hoang địa" này chúng ta tin chắc rằng mình có cơ hội để có một kinh nghiệm sâu xa về Thiên Chúa, Đấng củng cố cho tinh thần, thêm sức cho đức tin, nuôi dưỡng đức cậy, và làm cho đức ái được linh hoạt. Đó là một kinh nghiệm làm cho chúng ta trở thành những người dự phần vào chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi và sự chết qua Hy Tế tình yêu trên Thánh Giá. Nhưng "hoang địa" cũng là một khía cạnh tiêu cực của thực tại chung quanh chúng ta: sự khô cằn; nghèo nàn trong những lời của sự sống và các giá trị; chủ nghĩa thế tục và nền văn hóa duy vật, là những điều giam hãm con người trong trong những phạm vi hiểu biết thế tục về cuộc đời, làm mất đi tất cả mọi liên hệ đến sự siêu việt. Và đó cũng là môi trường mà trong đó bầu trời phía trên chúng ta ra tối tăm vì bị bao phủ bởi những đám mây của hiểu lầm, ích kỷ và lừa dối. Mặc dù thế, ngay cả đối với Hội Thánh ngày nay, thời gian ở hoang địa có thể biến thành một thời gian ân sủng, bởi vì chúng ta tin chắc rằng Thiên Chúa có thể làm cho nước hằng sống vọt ra từ cả một tảng đá cứng nhất, là nước làm thỏa cơn khát và đem lại sự khoan khoái cho chúng ta.

Anh chị em thân mến, trong bốn mươi ngày này, là những ngày dẫn chúng ta đến lễ Phục Sinh, chúng ta có thể tìm thấy sự can đảm mới để chấp nhận một cách kiên nhẫn và với đức tin mọi hoàn cảnh khó khăn, đau khổ và thử thách, với ý thức rằng Chúa sẽ làm ra một ngày mới từ đêm đen. Và nếu chúng ta trung thành với Chúa Giêsu cùng theo Người trên đường Thập Giá, thì thế giới tươi sáng của Thiên Chúa, thế giới của ánh sáng, của chân lý, và của niềm vui sẽ được phục hồi cho chúng ta: Nó sẽ là một bình minh mới được tạo ra bởi chính Thiên Chúa. Tôi cầu chúc tất cả anh chị em một cuộc hành trình của Mùa Chay đầy phúc lành!

Dienstag, Januar 10, 2012

Giảng cấm phòng cho Giáo triều về Truyền giáo: Khởi đi lại từ đầu đợt loan báo Tin Mừng hiện hành (4)Lm Raniero Cantalamessa, ofm.1/9/2012
 
 
Các bài giảng của linh mục Raniero Cantalamessa cho Giáo triều Vatican trong Mùa Vọng 2011

BÀI IV: KHỞI ĐI LẠI TỪ ĐẦU đợt sóng loan báo tin mừng hiện hành

I- Một địa chỉ mới của nỗ lực loan báo tin mừng

“Prope est iam Dominus : venite, adoremus” : “Đức Chúa đã ở kề bên : nào hãy đến, chúng ta hãy bái thờ Ngài”. Chúng ta hãy bắt đầu bài suy niệm nầy, như Phụng vụ các giờ kinh trong những ngày kề với Lễ Noël nầy vốn thường bắt đầu, để Phụng vụ các giờ kinh nầy cũng góp phần vào việc chuẩn bị cho Ngày Lễ trọng đại nầy.

Ngày hôm nay, chúng ta kết thúc những suy tư của chúng ta về nỗ lực loan báo tin mừng. Cho đến lúc nầy đây, tôi đã tìm cách tái dựng lại ba đợt sóng lớn loan báo tin mừng trong lịch sử của Giáo Hội. Chắc chắn rằng người ta có thể vẫn nhớ những công trình truyền giáo vĩ đại khác, như công trình truyền giáo được khởi xướng bởi thánh François-Xavier thế kỷ XVI ở phương Đông - Ấn độ, Trung hoa và Nhật bản – và như công cuộc loan báo tin mừng cho lục địa châu Phi bởi Daniele Comboni, Đức Hồng Y Guglielmo Massaia và biết bao người khác nữa. Tuy nhiên, vạn bất đắc dĩ cần phải có một chọn lựa, và tôi hy vọng rằng những suy tư của tôi sau đây sẽ cho phép nhận ra được lý do chọn lựa nầy.

Điều thay đổi và tạo ra sự khác biệt giữa các đợt sóng loan báo tin mừng khác nhau nầy, như đã được gợi lên, không phải là đối tượng của loan báo – “niềm tin đã được truyền đạt lại cho các thánh một lần thay cho tất cả”, nói theo ngôn ngữ của Thư của Jude - , mà là những người nhận, vốn riêng cho từng mỗi người, đó là thế giới Hy lạp và thế giới Roma, thế giới man di và tân thế giới, tức là lục địa châu Mỹ.

Vì thế, người ta tự hỏi : ngày hôm nay, trong đợt sóng loan báo tin mừng mới nầy, đợt sóng thứ tư, ai sẽ là người nhận đây ? Đây là câu trả lời : đó là thế giới phương Tây vốn đang bị tục hóa, và, dưới một số khía cạnh nào đó, thuộc thế hệ hậu-kitô. Việc chỉ rõ địa chỉ người nhận nầy, vốn đã thấy xuất hiện trong những tài liệu của Chân phước Giáo hoàng Jean-Paul II, nay lại càng trở nên đích danh hơn trong giáo huấn của Đức Thánh Cha Benoît XVI. Trong tự sắc mà qua đó ngài đã thiết lập “Hội đồng giáo hoàng để cổ vũ cho nỗ lực loan báo tin mừng mới”, Đức Thánh Cha Benoît XVI đã nói về việc “có nhiều xứ sở vốn đã có một truyền thống kitô xa xưa, nay trở thành trơ lì với sứ điệp tin mừng”.

Trong Mùa Vọng năm ngoái, tôi đã thử làm rõ điều đã tạo ra nét đặc thù của địa chỉ mới mà loan báo tin mừng muốn nhắm tới nầy, bằng cách tóm tắt lại qua ba khuôn mặt : khuynh hướng duy khoa học (scientisme), sự tục hóa (sécularisation), khuynh hướng duy lý (rationalisme). Ba khuynh hướng nầy chung qui đều dẫn đến cũng cùng một hậu quả : đó là khuynh hướng tương đối hóa mọi sự (relativisme).

Mỗi khi phát hiện ra một thế giới mới cần phải được loan báo tin mừng, thì chúng ta lại chứng giám sự xuất hiện của những con người loan báo tin mừng dành riêng cho thế hệ mới đó : các giám mục trong suốt ba thế kỷ đầu (nhất là nơi thế kỷ III), các đan sĩ trong đợt sóng thứ hai và các tu sĩ trong đợt sóng thứ ba. Ngày hôm nay cũng vậy, chúng ta đang chứng giám sự xuất hiện của một thế hệ mới các nhà loan báo tin mừng : đó là các giáo dân. Dĩ nhiên, không làm gì có chuyện thế hệ nầy ra đời để thay thế cho một thế hệ khác trước đó, mà ở đây chỉ nhằm muốn nói đến một sức mạnh mới của dân Thiên Chúa đến thêm vào những sức mạnh khác đã có trước đó, các giám mục, dưới sự hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng, vẫn luôn là những nhà hướng đạo có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội.

II- Như rãnh nước được tạo ra bởi một con tàu lớn trên biển

Tôi đã nói rằng dọc dài theo các thế kỷ, các địa chỉ lãnh nhận loan báo tin mừng có thay đổi, nhưng chính nội dung loan báo thì không. Tuy nhiên, tôi phải minh định cho rõ hơn khẳng định trên đây. Đã đành điều cốt yếu của loan báo không thể nào thay đổi được, nhưng cung cách trình bày loan báo đó, những ưu tiên, cái điểm mà từ đó chúng ta phải xuất phát trong loan báo nầy, có thể và phải thay đổi.

Chúng ta hãy doãn lại con đường mà loan báo tin mừng đã đi qua, để bây giờ đến được với chúng ta. Trước hết, đó là loan báo mà chính Đức Giêsu đã làm và mà đối tượng trung tâm là tin vui nầy : “Nước Thiên Chúa đã đến với anh em”. Tiếp theo pha kỳ độc nhất mà chúng ta thường gọi là “thời gian của Đức Giêsu” đó là “thời gian của Giáo Hội”, sau Biến cố Phục sinh. Lúc bấy giờ, Đức Giêsu không còn là người loan báo nữa, mà là Đấng được loan báo; hạn từ “Tin Mừng” (“Evangile”) không còn có nghĩa là “tin mừng do Đức Giêsu mang lại” nữa, mà là tin mừng về Đức Giêsu, tức là tin mừng mà đối tượng là Đức Giêsu và đặc biệt, sự chết và sự Phục sinh của Ngài. Đó luôn luôn vẫn là điều mà thánh Paul hiểu khi ngài sử dụng hạn từ “Tin Mừng”.

Nhưng, cần phải lưu ý đừng quá tách rời hai thời kỳ và hai loan báo nầy, thời gian của Đức Giêsu và thời gian của Giáo Hội, hay, như người ta có thói quen hay nói, tách rời “Đức Giêsu lịch sử” ra khỏi “Đức Kitô của niềm tin”. Đức Giêsu không chỉ là đối tượng của loan báo của Giáo Hội, điều được loan báo. Coi chừng đừng chỉ giản lược Ngài như thể chỉ là vậy mà thôi ! Làm thế có nghĩa là người ta đã quên mất sự Phục sinh của Ngài. Trong loan báo của Giáo Hội, chính Đức Kitô phục sinh, cùng với Thần Khí của Ngài, vẫn là Đấng đang nói; Đức Kitô vẫn còn là chủ thể đang loan báo. Như một bản văn của Công đồng đã nói : “Đức Kitô vẫn hiện diện nơi lời của Ngài, bởi vì chính Ngài vẫn đang nói khi người ta đọc các Sách Thánh bên trong Giáo Hội”.

Khởi đi từ loan báo đầu tiên của Giáo Hội, tức là “kérygme”. Chúng ta có thể qua việc dùng một hình ảnh tóm tắt lại diễn tiến liên tục của nỗ lực rao giảng của Giáo Hội. Chúng ta hãy tưởng tượng như đó là rãnh nước mà con tàu để lại phía sau nó trong chuyến hải hành. Rãnh nước nầy khi bắt đầu chỉ là một chấm nhỏ được tạo ra bởi mũi của con tàu, nhưng cái chấm nhỏ đó cứ mãi dần kéo dài ra cho đến lúc mất hút tận cuối chân trời và chấm dứt với việc nối kết lại được hai bờ biển đối diện với nhau. Đó chính là điều đã xẫy ra trong loan báo của Giáo Hội : loan báo nầy bắt đầu chỉ như một chấm nhỏ : kérygme, “Đức Giêsu, đã bị nộp vì tội lỗi của chúng ta và đã được phục sinh để công chính hóa chúng ta” (xem Rm 4, 25; 1 Cr 15, 1-3); hay cách hệ thống hơn : “Giêsu là Đức Chúa !” (Cv 2, 36; Rm 10, 9).

Bước giản nở đầu tiên của chấm nhỏ nầy xuất hiện với sự ra đời của 4 sách tin mừng, được viết ra để giải thích cái lõi hạt nhân ban sơ nầy, và cùng với phần còn lại của Tân Ước; tiếp đến là truyền thống của Giáo Hội, cùng với quyền giáo huấn, phụng vụ, thần học, các cơ cấu, các luật lệ, đường hướng linh đạo của Giáo Hội. Kết quả cuối cùng là cả một di sản đồ sộ bao la bát ngát, khiến người ta nghĩ đến cái chuỗi rãnh nước hút mắt mà con tàu đã để lại trên mặt biển khơi.

Vì thế, nếu muốn tin mừng hóa thế giới bị tục hóa nầy, cần phải có một chọn lựa. Bắt đầu từ đâu ? Khởi đi từ bất cứ điểm nào trên rãnh nước đó, hay từ chấm nhỏ đầu tiên ? Cái di sản dồi dào cơ man nào là giáo thuyết và những định chế đó có thể trở thành một điều bất lợi, nếu chúng ta tìm cách giới thiệu về mình, cùng với cả gia tài đó, cho một người mà từ lâu đã đánh mất mọi tiếp xúc với Giáo Hội và chẳng còn biết Đức Giêsu là ai. Làm thế cũng chẳng khác gì đi mặc cho một đứa trẻ con bộ áo gấm vóc rộng thùng thình và nặng nề mà các giám mục và linh mục vẫn thường mặc trong một vài dịp nào đó trong năm phụng vụ.

Cần phải giúp cho con người nầy tiếp xúc ngay được với Đức Giêsu; cùng với con người đó, hãy làm ngay điều mà Pierre đã làm trong Ngày Lễ Ngũ Tuần với ba ngàn người hiện diện : nói ngay với những con người nầy về Đức Giêsu mà chúng ta đã đóng đinh trên thập giá và mà Thiên Chúa đã làm cho Ngài phục sinh, dẫn con người nầy đến cái điểm mà cả anh ta nữa, một khi được đánh động nơi chính con tim, cũng sẽ thốt lên xin : “Thưa anh em, chúng tôi phải làm gì đây ?” và chính chúng ta cũng sẽ trả lời, như Pierre đã trả lời : “Hãy ăn năn thông hối, hãy lãnh nhận Thánh tẩy, nếu anh em chưa lãnh nhận, hay hãy xưng thú tội lỗi, nếu anh em đã từng được thánh tẩy rồi.”

Cũng như ngày xưa, ngày nay cũng vậy, những ai đáp trả lại lời loan báo sẽ được hiệp nhất lại với cộng đoàn những kẻ tin, họ sẽ được nghe lời dạy dỗ của các tông đồ và được tham dự vào việc bẻ bánh; tùy theo ân sủng nhận được và tùy theo đáp trả của mỗi người, những người nầy, dân dần, sẽ có thể sở đắc được cả cái di sản đồ sộ nầy, vốn khai sinh từ chấm nhỏ là kérygme của các tông đồ. Người ta không đón nhận Đức Giêsu dựa trên lời của Giáo Hội, mà người ta đón nhận Giáo Hội dựa trên lời của Đức Giêsu.

Chúng ta đang có một đồng minh bất đắc dĩ trong nỗ lực nầy : đó là thất bại của tất cả mọi nỗ lực qua đó thế giới bị tục hóa nầy muốn thay thế loan báo tin mừng kitô đầu tiên (kérygme chrétien) bằng những “tiếng kêu” khác và “những biểu tình” khác. Tôi thường thích lấy làm thí dụ bức tranh nỗi tiếng “Tiếng kêu” của nghệ sĩ gốc người Na uy, Edvard Munch. Một người đứng trên cầu, đàng sau là một cái nền màu đỏ nhạt, hai tay vòm quanh cái miệng ngoác to gần như hết cỡ, gào to lên, người ta hiểu ngay tức khắc đó là một tiếng kêu kinh hoàng, một tiếng kêu trống rỗng, không lời, đó chỉ là một âm thanh. Lối diễn tả hoàn cảnh của con người hiện đại như thế, theo tôi, xem ra mang lại nhiều hiệu quả nhất. Đó là hoàn cảnh của một con người đã quên bẵng đi mất tiếng kêu ăm ắp đầy nội dung là loan báo đầu tiên của các tông đồ (kérygme) và cảm thấy cần phải gào vào khoảng không nỗi kinh hoàng xao xuyến hiện sinh của riêng mình.

III- Đức Kitô, người đương thời với chúng ta

Bây giờ đây, tôi muồn thử tìm cách giải thích tại sao trong kitô-giáo, bất cứ khoảnh khắc nào, người ta cũng có thể lại bắt đầu khởi đi từ mũi của con tàu, mà đó không phải chỉ là một thứ tưởng tượng hay đơn giản chỉ là một công việc khảo cổ mà thôi. Lý do vốn đơn giản : con tàu vẫn còn rẽ nước trên biển khơi và rãnh nước đó vẫn còn được bắt đầu với một chấm nhỏ !

Mặc dù ông ta đã có nói nhiều điều rất đẹp đẽ về niềm tin và về Đức Giêsu, nhưng có một điểm tôi không đồng tình với triết gia Kierkegaard. Một trong những đề tài ưa thích của ông ta đó là đặc tính đồng thời của Đức Kitô. Nhưng, Kierkegaard quan niệm tính đồng thời có nghĩa là chúng ta phải trở nên những ngưởi đồng thời của Đức Kitô. “Kẻ muốn tin vào Đức Kitô – ông ta viết – bắt buộc phải trở thành kẻ đồng thời với Ngài trong sự hạ mình xuống”. Điều đó có nghĩa là để tin thực sự, cũng cùng một thứ niềm tin mà các tông đồ được đòi hỏi phải có, cần phải vượt qua 2000 năm lịch sử và những xác nhận về Đức Kitô và phải tự đặt mình vào vị trí của những kẻ mà Đức Giêsu đã ngõ lời với : “Hãy đến với Ta, tất cả những ai đang khổ đau vì gánh nặng đè vai, và Ta, Ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi” (Mt 11, 28). Làm sao người ta có đủ can đảm để tin vào một lời hứa hẹn như vậy được chứ, khi mà Đấng đã đưa ra lời hứa hẹn đó, chính Ngài chẳng có nổi một viên đá để gối đầu ?

Tính đồng thời đích thực vốn là một điều khác : chính Đức Kitô trở thành người đồng thời của chúng ta, bởi vì, sau khi đã được phục sinh, Ngài vẫn sống trong Thần Khí và trong Giáo Hội. Nếu chúng ta phải trở thành những kẻ đồng thời của Đức Kitô, thì sự đồng thời nầy chỉ có trong ý hướng mà thôi; còn nếu chính Đức Kitô trở thành người đồng thời với chúng ta, thì sự đồng thời nầy là điều có thực. Theo một tư tưởng linh đạo táo bạo của anh em chính thống giáo, thì “lời kinh xin hãy làm quay trở lại (anamnèse) là một hành vi khiến cho quá khứ còn hiện diện hơn cả khi mà nó đã được sống”. Đó không phải là một sự thái quá. Trong cử hành phụng vụ thánh lễ, biến cố chết và phục sinh của Đức Kitô trở nên hiện thực đối với tôi còn hơn cả đối với những kẻ đã được tham dự cách cụ thể và với thể xác trước kia, bởi vì, vào lúc đó, chỉ là một sự hiện diện “theo thể xác”, còn bây giờ là một sự hiện diện “theo Thần Khí”.

Cũng một điều như vậy đối với những ai, với niềm tin, công bố : “Đức Kitô đã chết vì những tội lỗi của tôi, Ngài đã phục sinh để làm cho tôi được công chính hóa, Ngài là Đức Chúa”. Một tác giả thế kỷ IV đã viết : “Đối với mỗi một người, khởi đầu của sự sống, đó là lúc Đức Kitô đã bị hiến tế cho chính người đó. Nhưng, Đức Kitô bị hiến tế cho anh ta vào lúc mà anh ta nhận ra được ân sủng đó và ý thức được những hệ quả mà anh ta nhận được từ hành vi hiến tế nầy”.

Tôi nhận thấy quả không dễ dàng gì, thậm chí có lẽ còn không thể khi phải nói những điều nầy cho người ta, và còn tệ hơn nữa khi phải nói những điều đó cho thế giới đã bị tục hóa ngày hôm nay; nhưng, đó chính là điều mà chúng ta, những người rao giảng tin mừng, cần phải biết nằm lòng, để có thể kín múc được ở đấy lòng can đảm và tin vào lời của Jean, người rao giảng tin mừng khi ngài nói : “Đấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian” (1 Ga 4, 4).

IV- Các giáo dân, những diễn viên chính trong nỗ lực tin mừng hóa

Ngay từ đầu, tôi đã nói, trong pha kỳ tin mừng hóa hiện nay, các giáo dân là những diễn viên chính mới. Vai trò nầy vốn đã được đề cập đến bởi Công đồng, trong sắc lệnh “Apostolicam actuositatem”, bởi Đức Thánh Cha Paul VI trong “Evangelii nuntiandi”, và bởi Đức Thánh Cha Jean-Paul II trong “Christifideles laici”.

Những tiền đề của lời mời gọi phổ quát cho sứ mạng truyền giáo nầy đã được tìm thấy trong Tin Mừng. Sau lần đầu tiên sai các tông đồ đi truyền giáo, như người ta đọc thấy trong tin mừng của Luc, Đức Giêsu “còn chỉ định 72 người, và Ngài đã sai họ, cứ hai người một, đi trước Ngài đến tất cả các làng mạc, địa điểm mà Ngài sẽ đến” (Lc 10, 1). 72 môn đệ nầy có lẽ là tất cả những người mà Ngài đã qui tụ được cho đến lúc đó, hay chí ít là tất cả những người cách nghiêm túc đã có thể sẵn sàng cùng dấn thân với Ngài. Vì thế, như vậy là Đức Giêsu đã sai đi “tất cả” các môn đệ của mình.

Tôi có biết một người giáo dân ở Hoa Kỳ, cha của một gia đình, bên cạnh nghề nghiệp của mình, còn có một hoạt động tin mừng hóa rất hăng say. Đó là một con người có đầu óc khôi hài, tin mùng hóa bằng cách tạo ra được những tràng cười thoải mái, bởi vì chỉ có những người Mỹ mới có thể làm được như vậy. Khi đến một địa điểm mới, ông ta bắt đầu bằng cách rất nghiêm túc nói như thế nầy : “2500 vị giám mục, tụ tập lại ở Vatican, đã xin tôi đến loan báo cho các bạn Tin Mừng”. Tự nhiên là người ta bắt đầu cảm thấy tò mò. Lúc bấy giờ ông ta mới giải thích rằng 2500 vị giám mục là những con người đã tham dự Công đồng Vatican II và đã soạn thảo sắc lệnh về sứ mạng tông đồ của các giáo dân, trong đó mỗi giáo dân đều được mời gọi tham gia vào sứ mạng truyền giáo loan báo tin mừng của Giáo Hội. Ông ta như vậy là hoàn toàn có lý khi nói “các ngài đã xin tôi”. Những lời nầy không phải là những lời nói với không khí, hãy nói cho tất cả và từng người một : những lời nầy được ngõ với mỗi giáo dân công giáo, đích thân từng cá nhân một.

Ngày nay, chúng ta biết năng lượng hạt nhân vốn xuất phát ra từ một “sự phân rã” nguyên tử. Một nguyên tử uranium bị bắn và “bị phá vỡ ra” thành hai do cú va chạm được tạo ra bởi một phân tử được gọi là neutron, trong tiến trình nầy, làm giải phóng ra năng lượng. Và, lúc bấy giờ, bắt đầu một phản ứng dây chuyền. Hai yếu tố mới tiếp tục phải chịu một “sự phân rã”, tức là đến lượt chúng, mỗi một yếu tố nầy lại tách ra thành hai nguyên tử khác, hai nguyên tử nầy lại tách thành bốn nguyên tử khác và rồi cứ như vậy tạo ra hằng tỷ nguyên tử, đến nỗi cuối cùng, năng lượng “được giải phóng ra” vô cùng vô tận. Và không nhất thiết đó là năng lượng phá hủy, bởi vì năng lượng hạt nhân cũng có thể được dùng cho những mục đích hòa bình, vì lợi ích của con người.

Trong ý nghĩa đó, trên bình diện thuộc linh, chúng ta có thể nói rằng những người giáo dân vốn là một thứ năng lượng hạt nhân của Giáo Hội. Một người giáo dân mà được Tin Mừng chạm tới, sống trong môi trường được bao quanh, có thể “làm lây nhiễm” thêm hai người khác, và với hai người nầy thêm bốn người khác nữa, và bởi vì con số các kitô-hữu giáo dân không chỉ có hàng chục ngàn người như hàng giáo sĩ, mà phải tính đến hàng trăm triệu, vì thế, những người giáo dân thực sự có thể đóng một vai trò mang tính quyết định, trong nỗ lực làm lan tỏa ánh sáng mang lại nhiều lợi ích của Tin Mừng vào trong thế giới.

Không phải chỉ từ Công đồng Vatican II người ta mới bắt đầu nói về chuyện giáo dân làm việc tông đồ : người ta đã nói về điều nầy từ rất lâu trước đó. Nhưng, điều mới mẻ mà Công đồng mang lại trong lãnh vực nầy đó là tước hiệu mà dưới tư cách đó các giáo dân đóng góp vào công việc tông đồ của hàng giáo phẩm. Đó không phải đơn giản chỉ là những cộng tác viên được kêu gọi để tham dự vào, tùy theo nghề nghiệp, thời gian và khả năng của họ; các giáo dân là những người mang trong mình những đặc sủng, mà nhờ đó, như hiến chế Lumen Gentium đã nói, “họ tỏ ra thích hợp và trong tư thế sẵn sàng để cáng đáng được những trách nhiệm khác nhau và những phần vụ có lợi cho nỗ lực canh tân và phát triển Giáo Hội”.

Đức Giêsu đã muốn các tông đồ của Ngài là những người chăn chiên và là những kẻ đánh cá người. Đối với chúng ta, hàng giáo sĩ, có vẻ như làm kẻ chăn chiên thì dễ dàng hơn là làm người đánh cá; tức là, thà với lời và các bí tích, nuôi nấng những ai đến với Giáo Hội còn hơn là ra đi tìm kiếm những kẻ ở xa, trong những môi trường tạp nham của cuộc sống. Dụ ngôn con chiên bị thất lạc ngày nay có lẽ phải được đọc ngược lại : 99 con chiên thì ở xa, và chỉ một con chiên còn ở lại trong chuồng. Điều nguy hiểm, đó là người ta dành tất cả thời gian để nuôi nấng chỉ một con chiên còn ở lại, và chẳng có thời gian đi tìm kiếm những con chiên đang lạc xa ràn, chỉ với cái cớ là thiếu linh mục. Trong tình hình đó, phần đóng góp của anh chị em giáo dân xem ra là ân sủng quan phòng.

Các “phong trào giáo hội” vốn tiền phong nhất trong lãnh vực nầy. Sự đóng góp mang tính biệt loại cho nỗ lực tin mừng hóa của những phong trào nầy đó là cống hiến cho những người trưởng thành một cơ hội để tái khám phá lại bí tích thánh tẩy của mình, và trở thành những phần tử năng nỗ và dấn thân của Giáo Hội. Ngày hôm nay, có nhiều cuộc trở lại nơi anh chị em không tin, và việc nhiều kitô-hữu quay trở về lại với thực hành tôn giáo đã được chứng thực trong cái khung của những phong trào nầy.

Mới đây thôi, nhằm hướng về nỗ lực tin mừng hóa nầy, Đức Thánh Cha Benoît XVI đã trở lại với đề tài tầm quan trọng của gia đình, khi nói về “vai trò số một” của các gia đình kitô trong lãnh vực nầy. “Cũng như sự vắng bóng Thiên Chúa và cơn khủng hoảng gia đình vốn liên kết với nhau, - ngài nói - cũng vậy, nỗ lực tin mừng hóa mới không thể tách rời khỏi gia đình kitô”.

Khi chú giải bản văn của Luc nơi có nói rằng Đức Giêsu “còn chỉ định 72 môn đệ, và sai họ từng hai người một đi trước Ngài vào các làng mạc và nơi chốn mà chính Ngài sẽ phải đến” (Lc 10, 1), thánh Grégoire le Grand đã viết rằng Ngài sai từng hai người một “bởi vì kém đi một người thì không thể có tình yêu”, và tình yêu là điều cho phép con người nhận ra rằng chúng ta là những môn đệ của Đức Kitô. Điều nầy có giá trị cho tất cả mọi người, nhưng nhất là cách đặc biệt cho những bậc làm cha làm mẹ. Nếu như các bậc làm cha làm mẹ chẳng thể làm được gì giúp đỡ con cái trong đức tin, họ hẳn đã làm được rất nhiều, nếu như, khi nhìn vào họ, các đứa con nầy có thể nói với nhau : “Hãy nhìn xem bố mẹ , các ngài đã yêu thương nhau biết bao !” “Tình yêu đến từ Thiên Chúa”, Thánh Kinh đã nói vậy (1 Ga 4, 7) và điều đó giải thích tại sao ở bất cứ nơi nào dù chỉ có một chút tình yêu đích thực thôi, là ở đấy Thiên chúa được loan báo.

Công cuộc loan báo tin mừng thứ nhất bắt đầu giữa các bức tường nhà. Một ngày kia, với một người trẻ hỏi Ngài anh ta phải làm gì để được cứu độ, Đức Giêsu đã trả lời : “Hãy đi và bán tất cả gì anh có, bố thí cho người nghèo…, rồi đến và theo Ta” (Mc 10, 21); nhưng với một người trẻ khác muốn từ bỏ mọi sự và đi theo Ngài, thì Ngài lại không chấp thuận, và đã nói với anh ta : “Hãy trở về nhà với những người thân của anh, hãy loan báo cho họ tất cả gì Đức Chúa đã làm cho anh vì lòng thương xót của Ngài.” (Mc 5, 19).

Có một ca khúc tôn giáo của người da đen rất nổi tiếng đã nói : “There is a balm in Gilead” (“Có một khúc nhựa thơm ở Gilead”). Một số lời ca trong đó có thể cổ vũ anh chị em giáo dân, nhưng không chỉ họ thôi đâu, trong nỗ lực tin mừng hóa từ người nầy sang người nọ, từ cánh cửa nhà nầy sang cánh cửa nhà khác. Bài ca nói như thế nầy :

“Nếu bạn không thể rao giảng như Pierre; nếu bạn không thể rao giảng như Paul, hãy quay trở về nhà mình và nói với những người lân cận của bạn : Đức Kitô đã chết để cứu độ tất cả chúng ta !”

Chỉ còn hai ngày nữa là đến Lễ Noël. Quả là một điều an ủi cho anh chị em giáo dân của chúng ta khi nhớ lại rằng xung quanh chiếc nôi của Đức Giêsu, bên cạnh Mẹ Maria và thánh Giuse, chỉ có những đại diện của họ là những chú mục đồng và các nhà chiêm tinh.

Lễ Noël dẫn chúng ta đến với cái đầu mũi nhọn của đầu mũi nhọn của rãnh nước được tạo ra bởi con tàu đang đi, bởi vì tất cả đều khởi đi từ đó, từ Chú Bé nằm trong máng cỏ. Trong phụng vụ, chúng ta sẽ nghe xướng lên “Hodie Christus natus est, hodie Salvator apparuit” (“Hôm nay, Đức Kitô sinh ra, hôm nay, Đấng Cứu Tinh xuất hiện”). Khi nghe điều đó, chúng ta hãy nghĩ lại điều mà chúng ta đã nói về lời kinh xin hãy làm quay trở lại (anamnèse), nhờ đó, khiến cho biến cố đã diễn ra trong quá khứ còn hiện diện hơn cả khi mà nó đã diễn ra lần đầu tiên. Phải, Đức Kitô hôm nay sinh ra, bởi vì Ngài thực sự sinh ra cho tôi ngay lúc mà tôi nhận ra được mầu nhiệm, ngay lúc mà tôi tin vào mầu nhiệm nầy. “Ích gì cho tôi việc Đức Kitô một lần đã sinh ra bởi Mẹ Maria ở Bethléem, nếu Ngài lại không sinh ra trong trái tim tôi, nhờ đức tin ?” : đó là những lời đã được thốt lên bởi Origène và đã được thánh Augustin và thánh Bernard lập lại.

Hãy biến thành của chúng ta lời mời gọi đã được Đức Thánh Cha lựa chọn như những ước nguyện của mùa Noël năm nay, và chúng ta hãy lâp lại điều đó bằng chỉ một hơi thở, với tất cả tấm lòng của chúng ta : “Veni ad salvandum nos”, “Lạy Chúa, xin hãy đến cứu độ chúng con !”.
[Nguyên tác Ý ngữ; Bản Pháp ngữ của Zenit (Isabelle Cousturié); Bản Việt ngữ của linh mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung].

Freitag, Januar 06, 2012

Bài giảng cho Giáo Triều vể nỗ lực truyền giáo: ''Đến tận củng trái đất'' (3)LM Raniero Cantalamessa, ofm1/6/2012


BỐN BÀI GIẢNG CỦA CHA RANIERO CANTALAMESSA, OFMCAP.
CHO GIÁO TRIỀU VATICAN MÙA VỌNG NĂM 2011,
VỀ NHỮNG NỖ LỰC TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI HÔM QUA VÀ HÔM NAY
Với mong muốn đáp ứng phần nào lời mời gọi của Đức Thánh Cha BÊNÊĐICTÔ XVI về nỗ lực Truyền giáo và Tái truyền giáo của Giáo Hội hiện nay, xin trân trọng gửi đến quí vị độc giả bản dịch 4 bài giảng của linh mục Raniero Cantalamessa, ofmcap., giảng cho Giáo triều Vatican trong Mùa Vọng 2011 vừa qua:

BÀI III: “ĐẾN TẬN MÚT CÙNG TRÁI ĐẤT”

Lục địa châu Mỹ lần đầu tiên được loan báo tin mừng

I- Niềm tin kitô vượt qua Đại dương

Cách đây 4 ngày, ngày 12 tháng 12, lục địa châu Mỹ vừa mới long trọng cử hành lễ Đức Bà GUADALUPE, cũng là ngày lễ buộc ở Mexique. Đây là một sự trùng hợp hết sức may mắn để, trong bài suy niệm nầy, nói về đợt sóng lớn thứ ba loan báo tin mừng. Trong lịch sử của Giáo Hội, đợt sóng thứ ba nầy diễn ra tiếp theo ngay sau cuộc khám phá ra tân thế giới.

Chúng ta hãy nhắc lại đây những đường nét lớn của công cuộc mạo hiểm truyền giáo nầy. Nhưng, trước hết, là một ghi nhận. Khi xâm nhập vào lục địa mới nầy, trong cùng lúc châu Âu kitô vừa mang vào đấy niềm tin của mình và cả những chia rẽ của mình. Vào cuối đợt sóng lớn truyền giáo nầy, lục địa châu Mỹ cho thấy đã có cũng cùng một tình trạng chia rẽ như nó hiện đang là ở châu Âu lúc đó : một miền Nam phần lớn là công giáo và một miền Bắc phần lớn là tin lành. Ở đây, mối quan tâm duy nhất của chúng tôi là hướng về nỗ lực loan báo tin mừng cho châu Mỹ Latinh, chỉ bởi một lý do là vì nó đã diễn ra trước tiên, ngay sau khi khám phá ra tân thế giới.

Kể từ khi Christophe Colomb, năm 1492, trở về từ chuyến hành trình của mình và loan tin có những vùng đất mới (mà lúc đó người ta vẫn cứ tưởng là thuộc Ấn độ), Tây ban nha công giáo đã đưa ra hai quyết định : mang niềm tin kitô đến cho các dân mới nầy, và mở rộng quyền bính chính trị của mình trên các sắc dân nầy. Để làm được điều đó, Tây ban nha cần phải có được sự chuẩn thuận của Đức Giáo hoàng Alexandre VI thừa nhận các quyền của họ trên tất cả vùng đất mới nầy, 100 dặm bên kia Açores (quần đảo thuộc Bồ đào nha), và cho Bồ đào nha các vùng đất nằm bên nầy ranh giới. Làn ranh mà sau nầy chuyển dịch có lợi cho Bồ đào nha, nhằm hợp pháp hóa quyền sở hữu Brésil cho Bồ đào nha. Những đường biên mới của lục địa châu Mỹ Latinh tương lai, cả về mặt ngôn ngữ, như vậy, kể từ đó, đã bắt đầu được định hình.

Trước cỗng vào mỗi làng, quân lính treo các mệnh lệnh ghi rõ ràng (requerimiento) là các dân cư trong làng phải gia nhập kitô-giáo và thừa nhận quyền bính tối cao của Tây ban nha.

Chỉ một vài đầu óc lớn, đứng đầu là các tu sĩ dòng Đaminh như Antonio de Montesino và Bartholomée de Las Casas, đã có can đảm lên tiếng chống lại những lạm dụng của những kẻ xâm lược nầy, và bênh vực cho quyền tự trị của các thổ dân ở đây. Sau khoảng gần hơn 50 năm một chút, vừa vì sức yếu, vừa vì có sự chia rẽ giữa các vương quốc địa phương với nhau, lục địa nầy phải cúi mình chịu ách thống trị của Tây ban nha và trở thành kitô, chí ít là trên danh nghĩa.

So với ngày xưa, các sử gia ngày nay có khuynh hướng nhìn hành động của các nhà truyền giáo ít đen tối hơn. Trước hết, người ta lưu ý rằng trái ngược với những gì xẫy ra nơi các bộ lạc “dân bản xứ” (“indiennes”) miền Bắc châu Mỹ, phần lớn các dân tộc bản xứ ở châu Mỹ Latinh, cho dù có bị tàn sát hàng loạt, vẫn còn sống sót được với ngôn ngữ và với lãnh thổ riêng của mình, cho đến lúc sau đó lấy lại được và tái khẳng định lại được căn tính và sự độc lập của mình. Nhưng cũng còn phải lưu ý đến điều kiện mà trong đó các nhà truyền giáo nầy đã phải khom mình lụy phục, đó là nền tảng thần học mà họ đã được đào tạo trước đó. Theo sát mặt chữ và theo một cách hiểu cứng nhắc, châm ngôn “Extra Ecclesiam nulla salus” (“Bên ngoài Giáo Hội, không có ơn cứu độ”), những nhà truyền giáo nầy vốn đã xác tín rằng, để bảo đảm ơn cứu độ, cần phải rửa tội cho các sắc dân bản xứ nầy các nhiều bao nhiêu có thể và trong một thời gian càng ngắn bao nhiêu có thể.

Châm ngôn nầy vốn như một cái ách đè nặng lên trên nỗ lực loan báo tin mừng và, vì thế, đáng để chúng ta dành cho nó một khoảng thời gian tìm hiểu. Đây là một câu châm ngôn đã được định thức từ thế kỷ III bởi Origène, nhưng nhất là bởi thánh Cyprien. Lúc đầu, không can dự gì tới sự cứu độ những người ngoài kitô, mà chỉ liên quan đến những kitô-hữu mà thôi. Thật vậy, châm ngôn nầy hoàn toàn chỉ nhắm tới những người lạc giáo và những kẻ ly giáo trong thời đó mà thôi, nhằm nhắc nhỡ họ là một khi tách lìa khỏi Giáo Hội, họ đã phạm phải một lỗi rất nặng nề, khiến họ tự loại trừ mình ra khỏi ơn cứu độ. Vì thế, điều đó nhằm chống lại những ai tự mình tách ra khỏi Giáo Hội, chứ không phải chống lại những ai từ chối gia nhập vào.

Chỉ trong giai đoạn hai, khi kitô-giáo đã trở thành quốc giáo, châm ngôn nầy mới bắt đầu được đem áp dụng cho những người ngoại giáo, và cả những người Do thái, trên cơ sở xác tín chung lúc bấy giờ (cho dẫu khách quan mà nói đó là sai) rằng sứ điệp kể từ đây kể như ai cũng biết cả rồi, và rằng vì thế từ chối sứ điệp đó có nghĩa tự chuôc vào mình thân phận kẻ có tội và đáng phải bị kết án.

Chính sau khi khám phá ra tân thế giới mà các giới hạn địa lý cũ nầy, đúng vậy, mới bị phá đổ cách không thương tiếc. Việc khám phá ra toàn thể các sắc dân sống bên ngoài mọi tiếp xúc với Giáo Hội buộc phải nhìn lại lối giải thích câu châm ngôn cách quá cứng ngắc nầy. Các nhà thần học dòng Đaminh ở Salamanque và, sau đó, các tu sĩ dòng Tên, bắt đầu chọn lựa cho mình một lập trường phê phán, khi thừa nhận rằng người ta có thể ở bên ngoài Giáo Hội mà chẳng nhất thiết là có lỗi và vì thế phải bị loại ra ngoài khỏi ơn cứu độ. Còn nữa, đối diện với cách thức và những phương pháp không thể nào chấp nhận được mà Tin Mừng đôi khi đã được loan báo cho các thổ dân, lần đầu tiên, có người đã đặt vấn đề là cần tra cứu thử xem liệu có đúng hay không khi đi coi là có lỗi tất cả những ai, hoàn toàn biết đến việc loan báo tin mừng, nhưng vẫn không gia nhập đạo.

II- Các tu sĩ, những diễn viên chính

Đã hẳn, đây không phải là nơi thích hợp để đem ra một phê phán lịch sử về công cuộc loan báo tin mừng đầu tiên cho châu Mỹ Latinh. Trong dịp kỷ niệm ngũ bách chu niên, tháng 5 năm 1992, vấn đề nầy đã là đối tượng của một hội nghị chuyên đề của các sử gia, ngay tại Roma đây. Trong diễn từ ngõ với các tham dự viên, Đức Thánh Cha Jean-Paul II đã nói : “Trong công cuộc loan báo tin mừng nầy, cũng như trong bất cứ công trình nào của con người, đã hẳn, có những thành công và những sai lầm, có những bóng tối và những ánh sáng; nhưng, ánh sáng thì nhiều hơn bóng tối, khi xét đến những thành quả mà chúng ta thấy được sau 500 năm : đó là cả một Giáo Hội sống động và năng động mà ngày nay đang tiêu biểu cho một phần quan trọng của Giáo Hội toàn cầu”.

Một đàng, có một số người, nhân dịp kỷ niệm ngũ bách chu niên nầy, nói về nhu cầu cần phải có một nỗ lực “bóc gỡ đi tầng lớp văn hóa” (“déculturation”) và “giải thể đi hậu quả của nỗ lực tin mừng hóa” (“dé-évangélisation”), cho người ta có ấn tượng như vậy là so với điều đã từng xẫy ra theo cái cách thức như đã từng được biết, người ta sẽ thích hơn nếu như nỗ lực tin mừng hóa lục địa nầy đã không xẫy ra. Với tất cả niềm kính trọng đòi phải có đối với tình yêu mà các tác giả nầy đã từng có đối với các dân tộc châu Mỹ Latinh nầy, dầu vậy, tôi tin rằng một quan niệm như thế, cách mạnh mẽ, cần phải được loại bỏ.

Thay vì một thế giới vắng bóng tội lỗi nhưng không có Đức Giêsu-Kitô, thần học đã chứng tỏ cho thấy rằng thà có một thế giới với tội lỗi nhưng có Đức Giêsu-Kitô vẫn hơn. ‘Ôi ! tội hồng phúc ! Tội mà đã mang lại cho chúng ta một Đấng Cứu Chuộc vĩ đại như vậy !’, phụng vụ đêm Phục Sinh đã thốt lên như vậy. Chúng ta lại chẳng phải cũng có thể nói lên cũng cùng một điều tương tự về nỗ lực loan báo tin mừng cho hai vùng Bắc Mỹ và Nam Mỹ hay sao ? Ai lại chẳng thích hơn một lục địa với những bóng tối, nhưng lại có Đức Kitô, so với một lục địa không có “bóng tối và sai lầm”, những điều vẫn luôn có thể đi kèm theo sau những nỗ lực loan báo tin mừng, nhưng lại không có Đức Kitô kia chứ ? Người kitô-hữu nào, thuộc cánh hữu hay cánh tả (nhất là nếu đó lại là linh mục hay tu sĩ) lại có thể nói điều ngược lại, mà không áy náy như vậy là mình đang thiếu đức tin hay sao ?

Tôi đã đọc được ở đâu đó xác quyết nầy và tôi hoàn toàn đồng tình với nó : “Điều vĩ đại nhất đã xẫy ra năm 1492, không phải là chuyện Christophe Colomb đã khám phá ra châu Mỹ, mà là châu Mỹ đã khám phá ra được Đức Giêsu-Kitô”. Quả thật, đó không phải Đức Kitô trọn vẹn của Tin Mừng, Đấng mà đối với Ngài tự do mới chính là điều kiện của niềm tin, nhưng ai là kẻ có thể tự hào mình đang mang một Đức Kitô hoàn toàn không vướng víu gì đến bụi trần của lịch sử ? Những kẻ đang đề xuất một Đức Kitô cách mạng, chống lại những cơ cấu, chính họ cũng vậy, lại chẳng đang quên một điều gì đó của Đức Kitô, thí dụ như khẳng định của Ngài : “Nước Ta không thuộc về thế gian nầy” chẳng hạn ?

Nếu trong đợt sóng loan báo tin mừng đầu tiên, những diễn viên chính là các giám mục và trong đợt sóng thứ hai là các đan sĩ, thì trong đợt sóng thứ ba nầy, các diễn viên chính mà không ai có thể tranh cãi đó là các anh em, hoặc là các tu sĩ thuộc các dòng khất thực, trước tiên là anh em dòng thánh Phanxicô Assisi, các anh em dòng thánh Đaminh, các anh em dòng thánh Augustin, rồi trong thời kỳ thứ hai, các anh em dòng Tên. Các sử gia của Giáo Hội vẫn thừa nhận rằng ở châu Mỹ Latinh “các thành phần thuộc các dòng tu đã đóng một vai trò có tính quyết định trong lịch sử truyền giáo và Giáo Hội”.

Đánh giá của Đức Thánh Cha Jean-Paul II – “ánh sáng thì nhiều hơn là bóng tối” - mà chúng tôi đã có nói tới, có giá trị nhất là đối với các tu sĩ nầy. Sẽ không lương thiện nếu coi thường sự hy sinh xả kỷ và tính chất anh hùng của biết bao người trong số những nhà truyền giáo nầy. Những kẻ đi xâm lược thì được kích thích bởi tinh thần mạo hiểm và nỗi thèm khát chiến thắng, nhưng còn những vị tu sĩ nầy ? Họ có thể chờ đợi gì, khi từ bỏ quê hương và các nhà dòng của họ ? Họ không ra đi để mà chiếm đoạt, mà là để cho đi; họ muốn chinh phục các linh hồn về cho Đức Kitô, chứ không phải những tôi tớ về cho vua Tây ban nha, ngay như không phủ nhận là họ cũng có bị ảnh hưởng đôi chút tâm tình ái quốc nào đó của thời đại mình đang sống.

Khi đọc lại các lịch sử liên quan đến nỗ lực loan báo tin mừng nơi một vùng đất, người ta thấy quả thật là bất công và xa rời thực tế biết bao những đánh giá chung chung của một số tác giả. Điều đó đã đến với chính bản thân tôi, khi tôi được đọc, ngay tại chỗ, biên niên sử ghi lại buổi đầu của công cuộc truyền giáo ở Guatemala và nơi những vùng lân cận. Đó là những lịch sử về những hy sinh và về những diễn biến đột ngột không thể nào kể ra được. Trong số 20 anh em dòng Đaminh ra đi hướng về tân thế giới và Philippines, thì đã có đến 18 anh em hy sinh trong khi đang hành trình. Năm 1974, đã diễn ra Nghị hội bàn “về nỗ lực loan báo tin mừng trên thế giới hiện nay”. Trong những ghi chú viết tay, được thêm vào nơi tài liệu cuối cùng, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã viết :

“Điều đã được nói đến trong tài liệu về các tu sĩ liệu đã đủ chưa ? Liệu chẳng phải nên thêm vào đấy một từ về đặc tính tự nguyện, dám nghĩ dám làm, đại độ trong nỗ lực loan báo tin mừng của các tu sĩ nam và nữ hay chăng ? Đã đành việc loan báo tin mừng của họ phải tùy thuộc vào thẩm quyền nhà dòng và phải làm sao phối hợp nhịp nhàng được với thẩm quyền đó, nhưng cần ca ngợi họ về tính chất độc đáo, thiên tài, lòng tận tụy, vì họ thường phải nằm trong đám quân tiền phong đầu sóng đầu gió và luôn hứng hết mọi gian nguy, thậm chí cả hy sinh tính mạng”.

Các tu sĩ đã loan báo tin mừng cho châu Mỹ Latinh hoàn toàn xứng đáng với sự thừa nhận nầy. Cũng đã đủ, khi nghĩ đến một số trong những điều mà các tu sĩ nầy đã thực hiện được ở đây, như “những khu tự trị nhỏ” (“réductions”) nỗi tiếng của các anh em dòng Tên ở Paraguay, đó là những ngôi làng mà trong đó các anh em “Thổ dân” kitô, trốn tránh khỏi sự lạm dụng của quyền bính dân sự, có thể tìm hiểu đức tin và khai thác những tài năng của mình, như là những con người.

III- Các vấn đề hiện nay

Bây giờ, như thường lệ, chúng ta hãy cố gắng quay trở về lại với thời hiện tại, và xem xem lịch sử đó nói với chúng ta điều gì, khởi đi từ kinh nghiệm truyền giáo của Giáo Hội mà cách đại thể chúng ta vừa mới phác họa lại. Những điều kiện xã hội và tôn giáo của lục địa nầy đã thay đổi cách sâu xa, đến nỗi có lẽ tốt hơn thay vì nhấn mạnh đến điều chúng ta có thể học được hay không nên học từ thời kỳ nầy, thì nên suy tư về công việc loan báo tin mừng hiện nay trên lục địa châu Mỹ Latinh nầy.

Về vấn đề nầy, đã có và hiện vẫn luôn có vô vàn vô số những suy tư và những tài liệu đến từ Tòa Thánh, từ CELAM và từ từng mỗi Giáo Hội địa phương, đến nỗi tôi sẽ trở thành kẻ huyênh hoang, nếu như nghĩ mình có thể thêm thắt được vào đấy một cái gì đó mới mẻ. Tuy nhiên, tôi nghĩ mình cũng có thể đóng góp được một chút gì đó vào một vài suy tư đã có, từ chính kinh nghiệm của bản thân mình trong lĩnh vực nầy, nhờ đã có dịp thuyết giảng trong các kỳ tĩnh tâm của các hội đồng giám mục, của hàng giáo sĩ và của dân chúng trong hầu hết các nước thuộc châu Mỹ Latinh, mà trong đó có một số nước tôi đã thuyết giảng nhiều lần. Ở châu Mỹ Latinh, trong lãnh vực nầy, những vấn đề càng được đặt ra nhiều bao nhiêu thì cũng chẳng khác gì mấy nơi phần còn lại của Giáo Hội.

Một suy tư cần có về nhu cầu cần phải vượt qua một tình trạng cực đoan phải chọn lựa “hoặc cái nầy hoặc cái kia”, vốn đang hiện diện khắp nơi trong Giáo Hội, nhưng, đặc biệt gay gắt ở châu Mỹ Latinh, nhất là trong những năm vừa qua : sự phân cực cực đoan giữa tâm hồn hành động và tâm hồn chiêm niệm, giữa Giáo Hội dân thân trong lãnh vực xã hội vì những người nghèo và Giáo Hội loan báo niềm tin. Trước tình trạng phân cực đó, theo bản năng, chúng ta thường hay bị cám dỗ chọn cho mình một chiến tuyến, ca ngợi bên nầy và mạ lỵ bên kia. Giáo lý về các đặc sủng không cho phép chúng ta tạo ra một cuộc đối đầu như vậy. Ân huệ của Giáo Hội công giáo, đúng vậy, là công giáo, hay nói cách khác, là cởi mở ra với những ân huệ phong phú đa dạng khác nữa, vì vốn xuất phát từ cũng cùng một Thần Khí mà thôi.

Lịch sử các dòng tu, đã dấn thân trên những nẻo đường khác nhau, và đôi khi trái ngược nhau, chứng tỏ cho thấy điều đó : hội nhập vào trong thế gian hay trốn tránh thế gian, làm việc tông đồ giữa những người trí thức, như các anh em dòng Tên, và làm việc tông đồ giữa đám quần chúng, như các anh em dòng capucins. Luôn có chỗ cho tất cả mọi người, cả loại hình nầy, cả loại hình kia. Còn nữa, tất cả chúng ta đều cần lẫn nhau, bởi vì chẳng có ai có khả năng một mình mà có thể thực hiện được tin mừng cách trọn vẹn và có thể biểu hiện được Đức Kitô và cuộc sống của Ngài, dưới tất cả mọi hình thái mà Ngài đã biểu lộ. Vì thế, mỗi người phải vui mừng vì anh em khác đã làm được điều mà chính mình không thể nào làm được : kẻ đang vun trồng đời sống thuộc linh và loan báo Lời hãy biết rằng còn có những anh em khác đang dâng hiến đời mình để bảo vệ công lý và thăng tiến xã hội, và ngược lại. Lời cảnh báo của Tông đồ Phaolô vẫn còn nguyên giá trị của nó : “Một lần thay cho tất cả, chúng ta hãy thôi đi đừng phê phán lẫn nhau !” (x. Rm 14, 13).

Một ghi nhận thứ hai liên quan đến vấn đề những người công giáo tử bỏ Giáo Hội để đi đến với các truyên xưng kitô khác. Trước tiên, chúng ta cần nhớ rằng người ta không được đánh đồng coi tất cả mọi tuyên xưng của các “giáo phái” đều như nhau. Với một vài trong số các tuyên xưng đó, ở đây phải kể các anh em “ngũ tuần”, Giáo Hội công giáo bao năm qua vẫn giữ một cuộc đối thoại đại kết chính thức với họ, và điều nầy chứng tỏ Giáo Hội không coi những tuyên xưng đó như những giáo phái tầm thường.

Sự cổ vũ đối thoại nầy, cả ở qui mô địa phương nữa, vốn có cái lợi là giải độc cho bầu khí được lành mạnh hơn, cô lập hóa được những giáo phái hiếu chiến nhất và làm nản lòng những nỗ lực muốn lôi kéo. Cách đây vài năm, ở Buenos Aires, đã diễn ra một buổi gặp gỡ đại kết, cùng nhau cầu nguyện và cùng nhau chia sẻ lời, trong đó có sự tham gia của Đức Tổng Giám mục công giáo và các vị lãnh đạo của các Giáo Hội khác, cùng với sự hiện diện của 7000 người. Người ta thấy rõ ràng khả năng có thể có một tương quan mới giữa các kitô-hữu, mang tính xây dựng hơn có lợi cho niềm tin và nỗ lực loan báo tin mừng.

Trong một trong những tài liệu của mình, Đức Thánh Cha Jean-Paul II đã khẳng định rằng việc lan tràn các giáo phái bắt buộc người ta phải tự hỏi tại sao lại thế, cái gì đã thiếu sót trong công tác mục vụ của chúng ta. Trên cơ sở kinh nghiệm của mình – và không chỉ ở châu Mỹ Latinh – tôi xác tín rằng : điều lôi kéo người ta ra khỏi Giáo Hội chắc hẳn không phải là những hình thức đạo đức bình dân có thể xoay chiều bất cứ hướng nào mà phần lớn các Giáo Hội khác và các giáo phái, trái lại, vẫn tìm cách tống khứ và đánh bại. Cho dù phiến diện, nhưng lại mang tính dứt khoát, đó vẫn là một loan báo về ân sủng của Thiên Chúa, có thể sống Đức Giêsu như Đức Chúa và như Đấng Cứu Thế, mang hình hài một nhân vị hẳn hoi, có thể tham gia vào một nhóm quan tâm đến những nhu cầu riêng tư của bạn, cầu nguyện cho bạn trong cơn bệnh hoạn, khi mà y học đã đành chịu bó tay.

Nếu, một đàng, người ta có thể vui mừng vì những người nầy đã gặp gỡ được Đức Kitô và sám hối quay trở lại, đàng khác, điều đáng buồn là để làm điều đó những người nầy đã cảm thấy nhu cầu cần phải từ bỏ Giáo Hội của mình. Trong phần lớn các Giáo Hội mà những anh em nầy đến, tất cả đều xoay quanh cuộc trở lại thứ nhất và việc đón nhận Đức Giêsu như là Đức Chúa. Trong Giáo Hội công giáo, nhờ các bí tích, nhờ thẩm quyền Giáo hội, nhờ một nền linh đạo rất phong phú, đó là điều thuận lợi để người ta không phải chỉ dừng lại nơi giai đoạn sơ khởi ban đầu, mà còn phải đạt tới sự sống kitô viên mãn và hoàn hảo. Các vị thánh là những chứng cứ cho thấy điều đó. Nhưng, điều cần thiết là khởi đầu nầy phải thực sự phát xuất từ một hành vi có ý thức và từ nguyện vọng riêng tư của đương sự và, nơi điều đó, thách đố của các cộng đoàn tin mừng và ngũ tuần đối với chúng ta như vậy lại là liều thuốc kích thích cho chúng ta.

Nơi điều đó, hơn bao giờ hết, nói theo ngôn ngữ của Đức Thánh Cha Paul VI, Phong trào Canh tân nhờ đặc sủng chứng tỏ cho thấy “là một cơ may cho Giáo Hội”. Ở châu Mỹ Latinh, các vị mục tử của Giáo Hội đang bắt đầu hiểu rằng Phong trào canh tân nhờ đặc sủng không phải (như một số người tin là thế lúc ban đầu) là “một phần của vấn đề” khiến những người công giáo ra khỏi Giáo Hội, mà đúng hơn là một phần giúp giải quyết vấn đề. Các thống kê chưa bao giờ để lộ cho thấy có bao nhiêu người vẫn trung thành với Giáo Hội, nhờ nhận thấy trong Phong trào Canh tân nhờ đặc sủng điều mà những người khác lại đi tìm kiếm ở nơi khác. Có nhiều cộng đoàn, vốn xuất thân từ Phong trào canh tân nhờ đặc sủng, mặc dầu vẫn còn một vài hạn chế nào đó và thậm chí đôi khi còn một vài lệch lạc nào đó nữa, là những đạo quân tiên phong trong nỗ lực phục vụ Giáo Hội và loan báo tin mừng.

IV- Vai trò của các tu sĩ trong nỗ lực tân tin mừng hóa

Tôi đã nói rằng tôi không muốn dừng lại nơi nỗ lực loan báo tin mừng đầu tiên trên lục địa nầy. Tuy nhiên, có một điều đáng cho chúng ta quan tâm : đó là tầm quan trọng của các dòng tu truyền thống trong nỗ lực loan báo tin mừng. Chính là dành cho họ mà Chân Phước Giáo hoàng Jean-Paul II, nhân dịp kỷ niệm 500 năm biến cố loan báo tin mừng lần đầu tiên cho lục địa nầy, đã viết Bức Tông Thư, với tựa đề nguyên gốc của nó là “Los caminos del Evangelio”. “Các tu sĩ – ngài viết – mà vốn đã là những sứ giả loan báo tin mừng đầu tiên và mà, cách hiển nhiên, đã đóng góp nhiều trong việc làm cho đức tin sống được trên lục địa nầy, hẳn không thể vắng mặt trong lời hiệu triệu nầy của Giáo Hội, nhằm tham gia vào một nỗ lực loan báo tin mừng mới. Những đặc sủng khác nhau của đời sống tận hiến sẽ giữ gìn cho sứ điệp của Đức Giêsu luôn hiện diện và hiện hành mọi thời và mọi nơi.”

Chính đời sống cộng đoàn, nhờ có một sự điều hành tập trung và những trung tâm đào tạo trình độ cao, mà ngày xưa đã cho phép các dòng tu lăn xã được vào trong một công việc truyền giáo bao la như vậy. Nhưng, ngày nay, liệu có còn được sức mạnh đó chăng ? Trong tư cách một người trong cuộc, vốn thuộc về một trong những hội dòng xưa cũ nầy, tôi có thể dám trình bày cách thoải mái hơn. Việc giảm sút ơn gọi cách nhanh chóng trong các xứ sở phương Tây đã tạo ra một tình thế nguy hiểm : đó là việc người ta dành gần như toàn bộ sức lực của mình để làm sao thỏa mãn được những nhu cầu nội bộ bên trong của gia đình dòng tu của mình (đào tạo giới trẻ, tìm cách bảo tồn các cơ cấu và các công trình), mà chẳng có mấy quan tâm và sức lực dành cho nỗ lực hòa mình vào trong quĩ đạo rộng lớn hơn của Giáo Hội. Vì thế, có tình trạng người ta chỉ co cụm lại với chính mình mà thôi. Ở châu Âu, các dòng tu truyền thống bị bắt buộc phải hợp nhất nhiều tỉnh dòng lại làm một và, đau đớn thay cả việc cứ liên tục đóng cửa hết nhà này sang nhà nọ.

Đã hẳn, sự tục hóa là một trong những nguyên nhân của tình trạng giảm sút ơn gọi nầy, nhưng đó không phải là nguyên nhân duy nhất. Vẫn có những cộng đoàn dòng tu mới đang cuốn hút cả một đám đông các bạn trẻ. Trong Bức Tông Thư mà tôi vừa mới nhắc tới, Đức Thánh Cha Jean-Paul II khuyên các nam nữ tu sĩ châu Mỹ Latinh hãy “loan báo tin mừng khởi đi từ chính kinh nghiệm sâu xa của mình về Thiên Chúa”. Đó mới chính là điểm trọng yếu : “Một kinh nghiệm sâu xa về Thiên Chúa”. Chính cái đó mới hấp dẫn để có được những ơn gọi và tạo ra được những hoa trái đầu mùa cho một đợt sóng loan báo tin mừng mới có hiệu quả. Trong lãnh vực nầy, câu ngạn ngữ “nemo dat quod non habet”, không ai có thể cho điều mà mình không có, tỏ ra có giá trị hơn bao giờ hết.

Bề trên giám tỉnh của các anh em dòng Capucins des Marches, vốn cũng là bề trên của tôi, nhân dịp Mùa Vọng nầy, đã viết một Bức Thư gửi tất cả anh em trong dòng. Ngài đã đưa ra một thách thức mà tôi tin là tất cả mọi cộng đoàn dòng tu truyền thống đều có thể lắng nghe được :

“Bạn, người đang đọc những giòng nầy, bạn phải tưởng tượng rằng ‘bạn là Thánh Thần’ (“tu es l’Esprit Saint”). Phải, chắc bạn hiểu rõ điều đó : rằng bạn không chỉ tràn ngập Thánh Thần, mà bạn còn là chính Thánh Thần, Ngôi Ba của Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi. Và, dưới hình thức nầy, bạn hãy nghĩ rằng bạn có quyền mời gọi và sai một người trẻ đi vào con đường vốn sẽ giúp cho anh ta đạt được tình trạng hoàn hảo của Đức Ái, sống được đời sống dòng tu, nếu muốn nói cách nôm na. Liệu bạn có có can đảm để gửi anh bạn trẻ đó vào trong huynh đoàn của bạn, với niềm xác tín bảo đảm là huynh đoàn của bạn có thể là nơi chốn cách nghiêm túc sẽ giúp cho anh bạn trẻ nầy thực sự đạt đến được tình trạng hoàn hảo của Đức Ái trong mọi ngày của đời sống ? Nói cách khác : nếu như một người trẻ nào đó đến sống vài ngày hay vài tháng trong huynh đoàn của bạn, chia sẻ kinh nguyện, đời sống huynh đệ, công việc tông đồ…liệu anh ta có mê say được đời sống của chúng ta chăng ?”

Khi các dòng khất thực, đaminh và franciscains xuất hiện, vào đầu thế kỷ XIII, các dòng đan sĩ cũng đã được hưởng lợi không ít, đó là các đan sĩ được mời gọi để sống đời sống khó nghèo và có tính tin mừng hơn, trong khi mỗi bên vẫn hoàn toàn giữ được đặc sủng của riêng mình. Liệu chúng ta, các dòng tu truyền thống, ngày hôm nay, trong tương quan với các hình thức mới mẻ sống đời sống tận hiến đang được khêu gợi lên trong Giáo Hội, lại chẳng làm được như vậy hay sao ?

Ân sủng tạo ra các thực tại mới mẻ nầy thì nhiều và đa dạng, nhưng tất cả đều có một mẫu số chung, đó là Thánh Thần, “Lễ Ngũ Tuần mới”. Sau Công đồng, hầu như tất cả các dòng tu đã tồn tại trước đó đều đã rà soát lại và canh tân các bản hiến chương của mình, nhưng ngay từ năm 1981, Chân phước Jean-Paul II đã cảnh báo : “Mọi công việc canh tân đổi mới Giáo Hội mà Công đồng Vatican II, nhờ ơn quan phòng của Thiên Chúa, đã đề xướng và đã khởi đầu…chỉ có thể thực hiện được trong Thánh Thần, tức là với sự trợ giúp của ánh sáng của Ngài và quyền năng của Ngài mà thôi.”
“Thánh Thần – thánh Bonaventure đã nói – đi đến nơi “mà Ngài được yêu mến, nơi mà Ngài được mời, nơi mà Ngài được chờ đợi.” Chúng ta cần phải mở toang các cộng đoàn của chúng ta ra cho hơi thở của Thần Khí, Đấng sẽ đổi mới kinh nguyện, đời sống huynh đệ, tình yêu đối với Đức Kitô, và cùng với Ngài nhiệt tình truyền giáo. Nhìn lui lại đàng sau, những cội nguồn riêng của chúng ta, đấng sáng lập riêng của chúng ta, đã hẳn, nhưng còn phải nhìn vế phía trước nữa.

Khi nhìn vào hoàn cảnh hiện nay của các dòng tu trong thế giới phương Tây, câu hỏi mà ngôn sứ Ezékiel đã nghe vang vọng lên bên trên thung lũng các bộ xương khô, cách tự nhiên lại đến với tâm trí chúng ta : “Những bộ xương khô nầy liệu có thể sống lại chăng ?” Những bộ xương cứng cỏi mà người ta nói đến trong bản văn không phải là của những người chết mà là của những người sống; chính dân Israel đang trong hoàn cảnh lưu đày đã nói : “Những bộ xương của chúng con đã khô cằn, niềm hy vọng của chúng con đã can kiệt, chúng con đã tiêu vong !” Những tâm tình nầy đôi khi cũng lộ ra nơi chúng ta, những phần tử của những dòng tu xưa cũ.

Chúng ta hẳn biết câu trả lời, tràn đầy niềm hy vọng, mà Thiên Chúa đã tỏ bày : “Ta sẽ đặt thần khí của Ta trong các ngươi, và các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ định cư các ngươi trên mãnh đất của các ngươi, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa : Ta nói và Ta sẽ làm”, đó là lời của Đức Chúa. Chúng ta cần phải tin và hy vọng rằng cũng sẽ xãy ra cho chúng ta, và cho toàn thể Giáo Hội, điều mà lời ngôn sứ đã nói : “Thần Khí đã xâm nhập vào họ; họ khôi phục lại được sự sống, và đứng vững được với đôi chân của mình : đó là một đạo quân đông vố số kể” (xem Ed 37, 1-14).

Cách đây 4 ngày, như tôi đã nói ngay từ đầu, châu Mỹ Latinh đã cử hành Lễ Đức Bà Guadalupe. Người ta đã tranh luận nhiều về tính chất lịch sử của những sự kiện vốn nằm ở nơi cội nguồn của việc sùng kính nầy. Chúng ta cần phải thống nhất với nhau về điều mà người ta hiểu là sự kiện lịch sử. Có nhiều sự kiện thực sự đã xãy ra, nhưng không tạo nên lịch sử, bởi vì điều “tạo nên lịch sử”, theo ý nghĩa đặc thù của nó, không phải là tất cả gì đã xẫy ra, mà duy chỉ có điều mà, còn hơn cả đã được xẫy ra, đã có một tầm ảnh hưởng lên trên đời sống của một dân tộc, đã tạo ra được một sự gì đó mới mẻ, đã để lại được một dấu vết nào đó bên trong lịch sử. Và dấu vết mà Đức Nữ Trinh Guadalupe đã để lại trong lịch sử của dân tộc Mexique và cả châu Mỹ Latinh quả thực sâu sắc biết bao, làm sao có thể hình dung ra được đây !

Sự kiện hình ảnh Đức Maria, ngay từ khi lục địa châu Mỹ mới bắt đầu được loan báo tin mừng, năm 1531, thấy được in ấn trên chiếc áo choàng (tilma) của thánh Diego, dưới những đường nét của một cô gái trẻ pha trộn da màu, đúng như cái tên của ngài là “Morenita”, trên đồi Tepeyac, mạn Bắc Mexico, vốn mang một ý nghĩa tượng trưng rất cao. Người ta không thể có được cách nói nào đầy gợi ý hơn thế, rằng Giáo Hội, ở châu Mỹ Latinh, như vậy là được mời gọi – và Giáo Hội ở đây vẫn muốn làm như thế - để làm người bản xứ với những người bản xứ, để làm người da trắng lai với những người da trắng lai, là tất cả cho tất cả mọi người.
[Nguyên tác Ý ngữ; Bản Pháp ngữ của Zenit (Isabelle Cousturié); Bản Việt ngữ của linh mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung]