Trang chủ

Donnerstag, Januar 05, 2012

Mùa Vọng 2011 Giảng cho Giáo Triều Roma: ''Không còn phân biệt Hy Lạp hay do Thái...'' (2)
LM Raniero Cantalamessa, ofm.1/3/2012

BỐN BÀI GIẢNG CỦA CHA RANIERO CANTALAMESSA, OFM
CHO GIÁO TRIỀU VATICAN MÙA VỌNG NĂM 2011,
VỀ NHỮNG NỖ LỰC TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI HÔM QUA VÀ HÔM NAY
Với mong muốn đáp ứng phần nào lời mời gọi của Đức Thánh Cha BÊNÊĐICTÔ XVI về nỗ lực Truyền giáo và Tái truyền giáo của Giáo Hội hiện nay, xin trân trọng gửi đến quí vị độc giả bản dịch 4 bài giảng của linh mục Raniero Cantalamessa, ofmcap., giảng cho Giáo triều Vatican trong Mùa Vọng 2011 vừa qua (bản Việt ngữ của linh mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung, giáo phận Phan Thiết) :

BÀI II : “KHÔNG CÒN CÓ SỰ PHÂN BIỆT HY LẠP HAY DO THÁI, MAN DI MỌI RỢ HAY NGOẠI GIÁO”

Đợt sóng loan báo Tin Mừng mạnh mẽ thứ hai sau khi châu Âu bị xâm nhập bởi những sắc dân man di.

Trong bài suy niệm nầy, tôi muốn nói về đợt sóng lớn thứ hai trong nỗ lực loan báo Tin Mừng, đợt sóng, mà trong lịch sử của Giáo Hội, tiếp ngay sau sự sụp đổ của đế quốc Roma và trong bối cảnh có một tình trạng lẫn lộn giữa các sắc dân được tạo ra bởi cuộc xâm lăng của những người man di, nhằm, lại một lần nữa, cách cụ thể xem xem điều gì mà ngày hôm nay chúng ta có thể học tập được từ đợt sóng loan báo Tin Mừng nầy. Ý thức rất rõ chiều kích rộng lớn của thời kỳ lịch sử nầy và giới hạn của một bài suy niệm, vì thế xin hãy coi đây như chỉ là một chuyến tham quan chớp nhoáng mà thôi.

I- Một quyết định ghi dấu lên toàn bộ cả một giai đoạn

Vào thời điểm cách chính thức đế quốc Roma coi như sụp đổ, năm 476, châu Âu, kể từ đó và lâu dài sau nữa, mang một khuôn mặt mới. Không còn đế quốc nữa, nhưng thay vào đó, cơ man nào là những vương quốc “man di” xuất hiện. Cách chung chung, khởi đi từ phía Bắc, tình hình là như sau : nơi vùng đất thuộc địa cũ của Roma ở Britania, người ta gặp thấy những sắc dân Angles và Saxons, trong những vùng thuộc địa cũ ở Gaule, người ta gặp thấy những sắc dân Francs, phía Đông sống Rhin, người ta gặp thấy những sắc dân Frisons và Alamans, trong bán đảo Ibérique (Tây ban nha và Bồ đào nha), người ta gặp thấy những sắc dân Wisigoths, ở Italia, người ta gặp thấy những sắc sân Ostrogoths, sau đó, còn có những sắc dân Lombards, và ở Bắc Phi, người ta gặp thấy những sắc dân Vandales. Ở phương Đông, đế quốc byzantin vẫn còn cầm cự được.

Giáo Hội đứng trước một quyết định mà sẽ ghi dấu ấn lên toàn bộ thời kỳ nầy : trước tình hình mới nầy, cần phải chọn thái độ nào đây ? Để có được một quyết định mà sẽ mở toang Giáo Hội ra với tương lai, không phải là câu chuyện một sớm một chiều và không tạo ra những rạn nứt bên trong nội bộ Giáo Hội. Cũng như đã từng xãy ra trong biến cố Giáo Hội sơ khai khi phải tách ra khỏi quĩ đạo Do thái giáo để đón nhận anh em lương dân vào với Giáo Hội, ở đây, có một chút gì đó tương tự cũng đang được lặp lại. Sự mất phương hướng chung của các kitô-hữu đã đạt đến tột đỉnh của nó khi thành phố Roma bị Alaric, vua của những người Goths, cướp phá, năm 410. Người ta cứ nghĩ rằng ngày tận cùng thế giới đã đến, vì người ta đồng hóa thế giới với thế giới Roma, và thế giới Roma với kitô-giáo. Tiếng kêu thảng thốt của thánh Jêrôme tiêu biểu cho tình trạng mất phương hướng chung chung nầy : “Ai mà lại có thể tin được, - ngài đã viết vậy - rằng Roma sẽ sụp đổ, một Roma mà biết bao chiến thắng hiển hách trên khắp toàn cầu đã xây dựng được những nền móng vững chắc như vậy ?”

Về mặt tri thức, người đã có nhiều đóng góp nhất cho việc đưa niềm tin đi vào được trong thế giới mới nầy, đó là Augustin, với tác phẩm “De civitate Dei” (Thành Đô của Thiên Chúa). Trong nhãn quan của ngài, vốn ghi dấu bước khởi đầu cho một thứ triết học về lịch sử, Thành Đô Thiên Chúa được phân biệt ra khỏi Thành Đô thế tục, mà có lúc (vì quá hăng trong quá trình tư duy) đã được ngài đồng hóa với Thành Đô Satan. Điều mà Augustin hiểu qua khái niệm Thành Đô thế tục đó là tất cả gì liên quan đến lãnh vực chính trị, ở đây phải hiểu luôn cả Thành Đô Roma. Vì thế, không có ngày cùng tận của Thế Giới, mà chỉ có ngày cùng tận của một thế giới nào đó mà thôi !

Cách cụ thể, chính Đức Giáo hoàng ở Roma mới là người đóng vai trò quyết định trong việc mở toang tôn giáo ra với thực tại mới nầy, và là người điều phối các sáng kiến lại với nhau.Thánh Giáo hoàng Léon Cả vốn ý thức rất rõ rằng Roma kitô vẫn sẽ còn tồn tại ngay cả sau khi Roma ngoại giáo đã bị tiêu diệt, hơn nữa, Roma kitô đó “sẽ vươn dài ảnh hưởng tôn giáo thần linh của mình ra còn bao la gấp nhiều lần so với ảnh hưởng mà nó đã tạo ra được do sự thống trị thế tục ”.

Dần dần, có một sự thay đổi nơi thái độ của các kitô-hữu đối với các dân tộc man di; không còn bị coi như những sinh vật hạ đẳng, không có khả năng hấp thụ văn minh, các sắc dân man di, từ nay, được coi như những con người có thể trở thành anh em trong đức tin. Ngày xưa, các dân tộc man di bị coi như một mối đe dọa thường xuyên, nay, dưới con mắt của các kitô-hữu, họ bắt đầu xuất hiện như một cánh đồng truyền giáo mới, mênh mông. Phaolô, cùng với Đức Giêsu-Kitô, đã công bố bãi bỏ các phân biệt về sắc tộc, về tôn giáo, về văn hóa và về giai cấp xã hội khi nói : “Vậy, không còn phải phân biệt Hy lạp hay Do thái, cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ, tự do, nhưng chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người.” (Cl 3, 11); và đã có biết bao nhiêu nỗ lực mới đưa được công cuộc cách mạng nầy vào trong thực tế của lịch sử ! Và, đó không phải chỉ là chuyện ngày xưa !

II- Một nỗ lực tin mừng hóa mới cho châu Âu

Đối diện với các sắc dân man di, Giáo Hội trong cùng lúc phải lao vào hai cuộc chiến. Cuộc chiến thứ nhất, nhằm chống lại lạc giáo của Arius. Một số lớn các bộ tộc man di, nhất là những người thuộc sắc dân Goths, trong quá trình đi chinh phục, trước khi xâm nhập được vào trung tâm của đế quốc, đã có những giao tiếp, ở phương Đông, với kitô-giáo vốn đã bị lây nhiễm ít nhiều bởi lạc giáo của Arius, vì thế, ít nhiều gì họ cũng bị lây nhiễm bởi lối nhìn lệch lạc nầy, mà lúc đó vốn đang thịnh hành, nhất là do công trình của vị giám mục đang ở bên họ, là Wulfila (311-383), người đã dịch Thánh Kinh ra ngôn ngữ gothique. Một khi định cư trong những lãnh thổ phương Tây, những bộ tộc man di nầy cũng mang theo mình một thứ kitô-giáo lây nhiễm lạc giáo của Arius xưa.

Nhưng, lạc giáo của Arius vốn không có cơ cấu tổ chức trung ương tập quyền, cũng chẳng có một nền văn hóa hay một nền thần học có thể so sánh được với nên thần học của những người công giáo. Trong suốt thế kỷ VI, lần lượt, các vương quốc man di đã từ bỏ lạc giáo của Arius để gia nhập niềm tin công giáo, nhờ công trình của một số vị giám mục vĩ đại và những văn sĩ công giáo, đôi khi cũng do bởi những toan tính chính trị nữa. Công đồng Tolède, năm 589, đã là một thời điểm có tính quyết định. Với sự hậu thuẫn của Léandre de Séville, Công đồng đã xóa sổ khuynh hướng lạc giáo của Arius nơi các sắc dân wisigoth ở Tây ban nha và, thực sự là trên toàn bộ phương Tây.

Cuộc chiến chống lại lạc giáo của Arius, tuy vậy, không phải là điều gì mới mẻ. Cuộc chiến nầy thực ra đã bắt đầu trước đó, từ những năm 325. Tiến trình mới mẻ đích thực mà Giáo Hội đang dấn bước vào cho đến cùng, sau khi đế quốc Roma thoái trào đó là nỗ lực tin mừng hóa anh em lương dân. Nỗ lực tin mừng hóa nấy đi theo hai hướng : tạm gọi, là hướng nội và hướng ngoại, tức là nơi các dân tộc thuộc đế quốc cũ và nơi các dân tộc vừa mới xuất hiện trên diễn đàn sân khấu châu Âu. Trong những vùng đất của đế quốc cũ, Italia và các tỉnh thành, cho đến lúc nầy, Giáo Hội hầu như duy nhất chỉ cắm rễ trong các thành phố. Vấn đề bây giờ là làm sao vươn ra ngoài hiện diện được nơi cả các miền quê và các làng mạc. Hạn từ “lương dân” (“paien”), như người ta biết đấy, xuất phát từ “pagus” có nghĩa là làng quê, và hạn từ đó phải mang cái nghĩa đó như hiện nay là do việc tin mừng hóa các vùng quê, nói chung, đã diễn ra khá lâu sau việc tin mừng hóa các thành thị.

Đã hẳn, sẽ rất thú vị khi lần theo sợi chỉ đỏ nỗ lực tin mừng hóa và ngược dòng trở lại thời khai sinh và phát triển của hệ thống các giáo xứ, như là những phân bố nhỏ ra của giáo phận, thế nhưng, mục đích của tôi ở đây là giới hạn nơi hướng loan báo tin mừng khác, hướng hướng ngoại, tức là việc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc man di, vốn đã định cư ổn định ở các đảo và ở trung tâm của châu Âu, nói cách khác, ở Anh, Hòa Lan, Pháp và Đức ngày nay.

Biến cố vua Clovis, thuộc dòng dõi mérovingien, tòng giáo và đã được thánh Rémi, giám mục thành Reims ban phép thánh tẩy cho vào đêm Noël, năm 498 hoặc 499, đã tạo ra một khúc quanh lịch sử hết sức quan trọng và có tính quyết định. Theo thông lệ của thời đó, biến cố nầy, như vậy, quyết định không chỉ tương lai tôn giáo của dân Franc, mà còn cả tương lai của các sắc dân khác mà nhà vua đã chinh phục được, bên nầy và bên kia sông Rhin. Lúc ban Bí tích Thánh tẩy cho vua Clovis, giám mục Rémi đã tuyên bố một câu thời danh : “Mitis depone colla, Sigamber; adora quod incendisti, incende quod adorasti” (“Nầy hỡi Sicambre, hãy khiêm tôn cúi đầu, thờ lạy cái mà ngươi đã đốt cháy, và đốt cháy đi cái mà người đã thờ lạy !”). Chính ở nơi biến cố nầy mà nước Pháp đã được gán cho tước hiệu “con gái đầu lòng của Giáo Hội”.

Nỗ lực kitô-giáo hóa lục địa châu Âu chấm dứt vào thế kỷ IX, cùng với việc trở lại của các sắc dân Slaves, nhờ công lao của hai thánh Cyrille và Méthode. Các sắc dân nầy đã đến xâm chiếm các vùng đất phía Đông châu Âu, mà các đợt sóng di dân trước kia đã vội bỏ qua để tiến nhanh về phía Tây.

Những điều kiện tin mừng hóa nơi các sắc dân man di hoàn toàn mang một hình thức khác, khác với những điều kiện mà người ta đã biết nơi thế giới Hy lạp và Roma, nơi mà đối tượng kitô-giáo hóa là một thế giới văn minh, có tổ chức hẳn hoi, có những qui tắc, những luật lệ, những thứ ngôn ngữ chung. Có thể nói là đã có cả một nền văn hóa để người ta đối thoại với và chạm trán với. Bây giờ đây, kitô-giáo sẽ phải trong cùng lúc đối mặt với hai công việc : văn minh hóa và tin mừng hóa. Phải dạy đọc và dạy viết cho họ, hoàn toàn chỉ với mục đích phục vụ cho việc tiếp thu giáo lý kitô. Việc hội nhập văn hóa phải được thực hiện theo một cách thức mà trước đây hoàn toàn chưa từng có.

III- Thiên anh hùng ca của các đan sĩ

Công trình đồ sộ mà ở đây tôi chỉ có thể phác họa những đường nét chính yếu mà thôi đã được tiến hành với sự tham gia của tất cả mọi thành viên trong Giáo Hội. Trước tiên, đó là sự tham gia của Đức Giáo hoàng, kẻ mà nhờ sáng kiến trực tiếp của ngài khởi phát nỗ lực tin mừng hóa các sắc dân Angles, và là kẻ đã tích cực tham gia vào việc tin mừng hóa nước Đức vốn được tiến hành bởi thánh Boniface, và vào việc tin mừng hóa các sắc dân Slaves, được tiến hành bởi hai thánh Cyrille và Méthode; tiếp đến, là sự tham gia của các giám mục, các cha sở, tùy theo mức độ các cộng đoàn ngày càng được hình thành rõ nét hơn và trở nên ổn định hơn. Một số phụ nữ cũng đã đóng góp một vai trò tuy âm thầm nhưng mang tính quyết định. Đàng sau những cuộc trở lại quan trọng của các ông vua thuộc sắc tộc man di, thường thấy thấp thoáng bóng dáng ảnh hưởng của các bà vợ của họ : thánh nữ Clotilde đối với vua Clovis, thánh nữ Théodolinde đối với ông vua nhà lombard là Autharis, bà vợ công giáo của vua Edwin, người đã du nhập kitô-giáo vào miền Bắc nước Anh.

Nhưng, chính các đan sĩ mới là những diễn viên chính của công cuộc tái-tin mừng- hóa châu Âu, sau khi các sắc dân man di xâm nhập vào châu Âu. Ở phương Tây, phong trào đan viện, vốn đã bắt đâu từ thế kỷ IV, đã nhanh chóng lan rộng, nhưng qua hai thời kỳ và xuất phát từ hai hướng khác nhau. Đợt sóng thứ nhất khởi đi từ miền Nam và miền Trung của Gaule, nhất là từ Lérins (410) và từ Auxerre (418), và, nhờ công lao của thánh Patrick, vốn đã được đào tạo tại cả hai trung tâm đó, đợt sóng thứ nhất nầy đã thu về được Irlande, mà tất cả mọi hoa quả đời sống tôn giáo đều sẽ lệ thuộc vào nó. Từ đó, phong trào đan viện vượt qua đến vùng Ecosse, cùng với thánh Colomba, đấng sáng lập đan viện Iona (521-597), và cùng với thánh Cuhbert quê Lindisfarne (635-687), ở miền Bắc nước Anh, nơi mà ngài đã gieo trồng được một thứ kitô-giáo và một thứ phong trào đan viện mang màu sắc đặc thù celtique.

Những khởi đầu của đợt sóng đan viện thứ hai, chủ yếu là dành chiếm lại lợi thế trong cuộc chiến và hiệp nhất được các hình thái khác nhau của khuynh hướng đan viện phương Tây lại với nhau, có lẽ phải tính từ thời thánh Benoît (+547) như là khởi điểm. Thuộc về đợt sóng thứ hai nầy phải kể đan sĩ Augustin và các bạn bè của ông, vốn đã được thánh giáo hoàng Grégoire Cả sai đi. Những người nầy loan báo Tin Mừng cho mạn Nam nước Anh, mang lại cho vùng nầy một thứ kitô-giáo mẫu mã Roma, mà cuối cùng sẽ đánh bại thứ kitô-giáo theo kiểu celtique, và từ đó khiến cho kitô-giáo ở đây hài hòa được với phần còn lại của thế giới kitô-giáo, thí dụ như việc thống nhất được thời điểm của Ngày Lễ Phục Sinh.

Từ thế kỷ V đến thế kỷ VIII, châu Âu hoàn toàn bị bao vây bởi các đan viện, mà nhiều trong số đó sẽ đóng một vai trò hàng đầu trong việc hình thành lục địa nầy, trong việc định hình dung mạo tôn giáo và còn cả nghệ thuật, văn hóa và nông nghiệp. Chính trên cơ sở đó mà thánh Benoît đã được tuyên phong là Quan Thầy của châu Âu, và mà vì thế Đức Thánh Cha, năm 2005, đã chọn đan viện Subiaco làm nơi trình bày cách trọng thể về những gốc rễ kitô-giáo của châu Âu.

Hầu như tất cả các đan sĩ loan báo tin mừng vĩ đại đều xuất thân từ trào lưu được xếp hàng đầu trong hai trào lưu đã được kể ra trên đây, tức là trào lưu diễn ra trên lục địa Irlande và nước Anh. Những cái tên tiêu biểu nhất đó là thánh Colomban (542-651) và thánh Boniface (672-754). Vị thứ nhất, khởi đi từ Luxeuil, đã loan báo tin mừng cho nhiều vùng mạn Bắc Gaule và những bộ tộc miền Nam nước Đức, sang đến tận Bobbio, nước Italia; vị thứ hai, vốn được coi như nhà truyền bá tin mừng cho nước Đức, đã trãi dài hoạt động truyền giáo của mình đến tận vùng Frise, Hòa Lan hiện nay. Ngày 11 tháng 3 năm 2009, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã dành riêng một trong những bài giáo lý của ngài trong ngày thứ Tư cho vị thánh nầy (Boniface), nhằm nhấn mạnh đến những sợi dây liên kết chặt chẽ vẫn kết hợp vị thánh nầy với Giám mục Roma và đến hoạt động văn minh hóa mà vị thánh nầy đã khởi xướng nơi các sắc dân mà ngài đã loan báo tin mừng.

Khi đọc lại cuộc đời của hai vị thánh nầy, người ta có ấn tượng như đang sống lại cuộc phiêu lưu truyền giáo của tông đồ Phaolô ngày xưa : cũng cùng một niềm đam mê cháy bỏng mang tin mừng đến cho từng mỗi thụ tạo, cũng cùng một lòng dũng cảm dám đối diện với tất cả mọi thứ hiểm nguy và vất vả trên đường, cả đối với thánh Boniface và biết bao người khác nữa, cũng cùng một số phận kết thúc đó là tử vì đạo.

Những lỗ hổng trong nỗ lực loan báo tin mừng trên qui mô rộng lớn nầy vốn được biết đến nhiều, và chính khi so sánh với thánh Pholô mà người ta mới có thể thấy rõ được đâu là lỗ hổng chính trong những lỗ hổng nầy. Vị Tông Đồ, trong khi loan báo tin mừng, ở đâu ngài cũng canh cánh để thiết lập cho được một Giáo hội có thể bảo đảm được tính liên tục và sự phát triển đời sống kitô. Thông thường, vì thiếu phương tiện và vì những khó khăn không thể di chuyển được ngay bên trong một xã hội vẫn còn rối như bòng bong, nên các nhà tiên phong nầy vẫn chưa tìm ra được cách nào để bảo đảm được tính liên tục của công trình của mình.

Các dân tộc man di có khuynh hướng chỉ áp dụng một phần chương trình mà thánh Rémi đã vạch ra cho vua Clovis mà thôi : họ thờ lạy cái mà họ đã thiêu hủy, nhưng lại không thiêu hủy cái mà họ đã từng thờ lạy. Một phần hành trang thờ cúng ngẫu tượng và ngoại giáo vẫn còn đó, và chờ hễ có dịp lại ngóc đầu lên. Điều đó cũng giống như lối mòn của một số con đường trong rừng : không được bảo dưỡng và ít được đi lại, những con đường nầy nhanh chóng sẽ bị nuốt mất và xóa hết dấu vết bởi khu rừng rậm xung quanh. Duy chỉ có một công trình tồn tại lâu dài nhất nơi các nhà truyền bá tin mừng vĩ đại nầy đó là việc các ngài đã lập được nền móng cho cả một hệ thống các đan viện và, cùng với Augustin ở Anh và thánh Boniface ở Đức, thiết lập được những giáo phận và tổ chức được những nghị hội mà sau đó sẽ là một bảo đảm cho nỗ lực tái phục hồi lại một nỗ lực tin mừng hóa dài hơi hơn và đi vào chiều sâu hơn.

IV- Sứ vụ và chiêm niệm

Bây giờ đã đến lúc từ cái khung lịch sử nầy cần rút ra một vài chỉ dẫn cho ngày hôm nay. Điều trước tiên chúng ta cần ghi nhận đó là có một cái gì đó tương tự giữa thời kỳ mà chúng ta vừa mới viếng thăm và hoàn cảnh hiện nay. Vào thời đó, các dân di chuyển từ phía Đông sang phía Tây, còn bây giờ, di chuyển từ Nam lên Bắc. Giáo Hội, với thẩm quyền của mình, trong trường hơp nầy cũng vậy, đã chọn cho mình phạm vi hành động : cởi mở mình ra với cái mới và đón nhận những sắc dân mới.

Cái khác là ngày hôm nay đó không phải là những sắc dân ngoại giáo hay những kitô-hữu lạc giáo đến châu Âu, mà thường đó lại là những sắc dân đã có một tôn giáo được cơ cấu hẳn hoi và ý thức được mình là ai. Cái mới ở đây, vì thế, là nỗ lực đối thoại không đi ngược lại với việc loan báo tin mừng, mà là xác định phong cách của nỗ lực nầy. Chân phước giáo hoàng Jean-Paul II, trong thông điệp “Redemptoris missio” (“Sứ vụ của Đấng Cứu chuộc”) nói về giá trị thường hằng của mệnh lệnh truyền giáo, đã trình bày cách rõ ràng như thế nầy :

“Sự đối thoại liên tôn là một thành phần nằm ngay trong sứ vụ loan báo tin mừng của Giáo Hội. Được hiểu như một phương pháp và như phương tiện nhằm có một sự hiểu biết lẫn nhau và làm giàu lẫn cho nhau, sự đối thoại liên tôn không chống lại sứ vụ loan báo tin mừng cho muôn dân, trái lại, cách biệt loại, nó liên kết với sứ vụ nầy và là một cách thế diễn tả sứ vụ đó… Dưới ánh sáng của kế đồ cứu độ, Giáo Hội đánh giá chẳng có gì mâu thuẫn giữa việc loan báo Đức Kitô và sự đối thoại liên tôn, nhưng, Giáo Hội cảm thấy có sự cần thiết là phảilàm sao điều phối được cả hai nỗ lực nầy lại với nhau và đưa được vào trong cái khung của sứ vụ loan báo tin mừng cho muôn dân của Giáo Hội. Thật vậy, phải làm sao để cả hai nỗ lực nầy trong cùng lúc vừa liên kết mật thiết với nhau, vừa tách biệt nhau, và chính vì thế, người ta không được lẫn lộn chúng với nhau, không được lợi dụng nhau, cũng không được đánh đồng coi chúng như là tương đương với nhau, như kiểu chúng có thể thay đổi qua lại được cho nhau.”

Điều đã xẫy ra nơi châu Âu sau khi các sắc dân man di xâm nhập vào chứng tỏ cho chúng ta thấy một điều hết sức quan trọng đó là vai trò của đời sống chiêm niệm trong nỗ lực loan báo tin mừng. Đây là điều mà sắc lệnh công đồng “Ad gentes” (“Đến với muôn dân”) khi bàn về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội muốn nói với chúng ta :

“Những sáng kiến đa dạng nhằm mục đích cắm rễ sâu trong đời sống chiêm niệm quả đáng phải có một lưu ý đặc biệt : một số thiết chế, trong khi vẫn giữ những yếu tố cốt yếu của đời sống đan viện, đang nỗ lực để cấy trồng lại truyền thống rất phong phú của dòng tu của họ; một số khác quay trở lại với những hình thái đơn giản hơn của truyền thống đan viện xưa; tuy nhiên, tất cả đều phải nỗ lực cố gắng để tim cho ra một con đường thích nghi thực sự với những điều kiện nơi địa phương mình đang sống. Đời sống chiêm niệm mà vốn đã từng đóng góp nhiều vào quá trinh phát triển của sự hiện diện của Giáo Hội cách đầy đủ cần phải được tái lập lại khắp nơi trong các Giáo Hội trẻ.”

Lời mời gọi nầy, mời gọi tìm kiếm những hình thái mới của đời sống đan viện nhằm phục vụ cho nỗ lực loan báo tin mừng, vốn được gợi hứng từ khuynh hướng đan viện xưa, không nằm yên trong sách vở, như những thứ chữ chết.

Một trong những hình thái nhằm đáp ứng cho niềm mơ ước nầy đã được thực hiện bởi “Fraternités monastiques de Jérusalem” (“Các huynh đoàn đan sĩ ở Giêrusalem”), vốn được biết đến như những nam đan sĩ và nữ đan sĩ của các thành thị. Người sáng lập những huynh đoàn nầy, cha Pierre-Marie Delfieux, sau khi đã sống hai năm trong sa mạc Sahara, mà bạn đồng hành chỉ có Thánh Thể và cuốn Thánh Kinh, đã hiểu ra rằng ngày hôm nay các thành phố lớn đã bị tục hóa cũng chính là những sa mạc. Được giới thiệu ở Paris, năm 1975, ngày Lễ Kính Các Thánh Nam Nữ, các huynh đoàn nầy từ nay hiện diện trong nhiều thành phố lớn của châu Âu, kể cả ở Roma, nơi mà các huynh đoàn nầy phụ trách nhà thờ “la Trinité-des-Monts”. Đặc sủng riêng của họ là loan báo tin mừng thông qua cái đẹp của nghệ thuật và của phụng vụ. Tu phục của họ, lối sống của họ, đơn giản và nhặt nhiệm, thời gian mà họ chia ra giữa lao động và kinh nguyện, tất cả đều mang dáng dấp của một đời sống đan viện. Cái mới ở đây, đó là họ định cư ngay giữa trung tâm các thành phố, nói chung, trong những ngôi nhà thờ cổ kính và có giá trị nghệ thuật lớn, và sự cộng tác giữa các sư huynh và các nữ tu trong lãnh vực phụng vụ chẳng tước đi giữa họ sự độc lập trong vấn đề cư trú và thẩm quyền. Con số những cuộc trở lại và những kitô-hữu trở lại với đức tin, chung quanh những nơi nầy, không phải là ít.

Và rồi, còn có đan viện Bose, ở Italia, thuộc loại hoàn toàn khác, nhưng cũng nằm trong bối cảnh trăm hoa đua nở những hình thái đan viện mới. Và, trong lãnh vực đại kết, chúng ta có đan viện Taizé, ở Pháp, vốn là một thí dụ điển hình trong nỗ lực đưa đời sống chiêm niệm trực tiếp đi vào trong những nỗ lực loan báo tin mừng.

Ngày 1 tháng 11 năm 1982, tại Avila, Đức Thánh Cha Jean-Paul II, khi tiếp một phái đoàn lớn các đại biểu nữ tu sống đời sống chiêm niệm, đã đề xuất với các nữ tu dòng kín có thể có một sự dấn thân trực tiếp hơn vào công cuộc loan báo tin mừng của Giáo Hội.

“Các đan viện của các con – Đức Thánh Cha đã nói – là những cộng đoàn cầu nguyện giữa các cộng đoàn kitô, mà các con hẳn mang lại cho họ sự trợ giúp, lương thực và niềm hy vọng. Đó là những nơi chốn đã được thánh hiến và chúng cũng có thể là những trung tâm kitô đón nhận các con người, nhất là những người trẻ, mà vốn thường đang tìm kiếm một cuộc sống thực sự giản đơn và trong suốt, ngược lại với những gì mà cuộc sống mà xã hội tiêu thụ đã cung cấp cho họ.”.

Lời kêu gọi của Đức Thánh Cha không phải chỉ là tiếng kêu trong hoang mạc mà đã được đáp ứng lại do bởi những sáng kiến xuất phát từ các nữ tu có đời sống chiêm niệm, sẵn sàng với công việc loan báo tin mừng. Một trong những sáng kiến đó đã có dịp được biết đến nhân hội nghị mà Hội đồng giáo hoàng phụ trách công cuộc tân-tin mừng-hóa đã tổ chức tại Vatican. Tất cả các hình thái mới nầy không nhằm thay thế các thực thể đan viện truyền thống xưa, mà nhiều trong số đó vốn là những trung tâm tỏa sáng những giá trị thuộc linh và loan báo tin mừng, mà là nhằm song hành bên nhau và làm phong phú hóa cho nhau.

Sẽ là thiếu sót nếu trong Giáo Hội có tình trạng tách biệt rành rẽ giữa những con người thì tận hiến cho chiêm niệm và những người khác thì tận hiến cho sứ vụ truyền giáo; cần phải tổng hợp hai điều nầy lại với nhau nơi đời sống của từng mỗi nhà truyền giáo. Nói cách khác, cầu nguyện “cho” các nhà truyền giáo không đủ, cần phải có lời cầu nguyện “của” các nhà truyền giáo. Những đan sĩ vĩ đại đã tái-tin mừng-hóa châu Âu sau khi các dân man di xâm nhập vào, vốn đã là những con người đã đi ra khỏi sự thinh lặng của đời sống chiêm niệm và quay trở về lại ngay từ khi hoàn cảnh cho phép. Hay đúng hơn, trong trái tim mình, họ không bao giờ hoàn toàn đi ra khỏi đan viện của mình. Họ như vậy là đã áp dụng trước lời khuyên mà thánh François d’Assise đã đưa ra cho các anh em của mình khi sai họ ra đi trên những nẽo đường thế giới : “Dù chúng ta ở đâu, dù chúng ta đi đâu, chúng ta cũng mang theo mình cái xà lim của chúng ta. Cái xà lim đó chính là người anh em thân thể nầy, và tâm hồn chúng ta là nhà ẩn sĩ đang cư ngụ trong cái xà lim nầy để cầu nguyện Thiên Chúa và suy niệm.”.

Về điều đó, chúng ta có một thí dụ có thẩm quyền hơn. Một ngày của Đức Giêsu là một chuỗi xen kẽ nhau giữa cầu nguyện và suy niệm. Đức Giêsu không cầu nguyên chỉ trước khi rao giảng, Ngài cầu nguyện để biết điều gì cần phải rao giảng, để kín múc nơi kinh nguyện những điều cần phải loan báo cho thế giới : “Vậy, những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi.” (Ga 12, 50b). “Thẩm quyền” mà Ngài có khi nói và mà đã gây ấn tượng đến thế vốn phát xuất từ đó.

Những nỗ lực mới loan báo tin mừng sẽ phải đối diện với hai nguy cơ. Nguy cơ thứ nhất đó là tình trạng án binh bất động, lười biếng, chẳng làm gì cả và hoàn toàn phó thác cho người khác Nguy cơ thứ hai là cứ vội vàng lao mình vào, lăng xăng, cuống cuồng, rối rít và tâm hồn trống rỗng theo cách loài người, và rồi kết thúc với tình trạng ngày càng ít đi khả năng tiếp xúc được với nguồn suối của lời và tính hiệu quả của nó. Người ta nói : “Nhưng làm thế nào mà cứ ngồi vậy được chứ, cứ lặng thinh cầu nguyện, trong khi có biết bao nhu cầu đang đòi hỏi phải có sự hiện diện của chúng ta, làm thế nào mà không phải chạy nhanh lên khi căn nhà đang cháy chứ ?”. Đúng vậy, nhưng chúng ta cứ thử tưởng tượng điều gì sẽ xãy ra nếu nhóm lính cứu hỏa vội vội vàng vàng chạy đi dập tắt đám cháy, nhưng khi đến nơi, bỗng phát hiện ra rằng chẳng còn một giọt nước nào trong bồn dự trữ cả ! Đó cũng là hoàn cảnh chúng ta thường gặp phải, khi chúng ta vội vàng tất bật chạy đi rao giảng tin mừng mà lại không cầu nguyện. Kinh nguyện vốn là vấn đề mấu chốt trong nỗ lực loan báo tin mừng, bởi vì “mục đích ưu tiên số một của công việc loan báo kitô không phải là nhằm truyền bá một mớ giáo lý, mà là truyền thông cái cụ thể liên quan đến hiện sinh”. Kẻ cầu nguyện mà không nói thì loan báo tin mừng nhiều hơn là kẻ nói mà không cầu nguyện.

V- Mẹ Maria, ngôi sao loan báo tin mừng

Chúng ta hãy chấm dứt bài suy niệm nầy với một tư tưởng mà thời gian phụng vụ của những ngày nầy và Ngày Lễ kính Đức Maria vô nhiễm mà chúng ta vừa cử hành hôm qua gợi lên cho chúng ta. Một ngày nọ, trong một cuộc đối thoại đại kết, một người anh em Tin lành đã hỏi tôi, mục đích không phải có ý tranh cãi, mà chỉ là muốn tìm hiểu thôi : “Tại sao các ngài, những người công giáo, lại nói rằng Đức Maria là ‘Ngôi Sao loan báo tin mừng’ ? Đức Maria đã làm gì để xứng đáng với tước hiệu đó?” Câu hỏi nầy đã là một cơ hội để tôi đào sâu vấn đề nầy, và tôi đã nhanh chóng tìm ra lý do sâu xa của nó. Đức Maria là Ngôi Sao loan báo tin mừng, bởi vì Mẹ đã mang trong mình chính Lời, không phải chỉ cho dân tộc nầy hay dân tộc nọ, mà là cho toàn thể thế giới !

Nhưng, không chỉ vì thế. Mẹ Maria đã mang Lời trong lòng dạ của mình, chứ không phải trên môi miệng. Mẹ, cách thể lý, đã ngập tràn Đức Kitô và đã làm cho Đức Kitô tỏa sáng ra bên ngoài bằng chính sự hiện diện của Ngài nơi mình. Đức Giêsu đã tỏa sáng ra nơi đôi mắt của Mẹ, nơi khuôn mặt của Mẹ, nơi toàn thể ngôi vị của Mẹ. Khi một ai đó xức dầu thơm, chẳng cần phải nói gì, cứ ở gần bên người đó thôi là cảm nhận được hương thơm, và Mẹ Maria, nhất là trong thời kỳ Mẹ mang Đức Kitô trong lòng dạ của mình, cũng tràn ngập hương thơm là Đức Giêsu-Kitô như vậy. Người ta có thể nói rằng Mẹ Maria là khu nội cấm đầu tiên của Giáo Hội. Sau Lễ Ngũ Tuần, Mẹ Maria như nhập vào khu nội cấm. Nhờ các thư của các tông đồ, chúng ta biết được cơ man nào là các nhân vật, nhưng cũng có từng ấy phụ nữ nơi cộng đoàn kitô tiên khởi. Ở nơi một thời điểm nào đó, người ta có nói tới một Maria nào đó (xem Rm 16, 6), nhưng đó không phải là Mẹ Maria. Về Maria, Mẹ của Đức Giêsu, chẳng thấy nói gì cả. Mẹ đã biến đi mất tăm mất tích vào trong chốn sâu thẳm nhất của cõi lặng thinh. Nhưng, được luôn có Mẹ bên cạnh khi viết sách Tin Mừng, điều nầy liệu có ý nghĩa gì đối với Tông đồ Gioan, và điều đó liệu cũng có thể có ý nghĩa gì chăng đối với chúng ta khi chúng ta loan báo cũng chính Tin Mừng đó mà luôn có Mẹ kề bên ! “Đóa hoa Tin Mừng – Origène viết – đó là Tin Mừng của Gioan, mà ý nghĩa sâu xa của nó chỉ kẻ nào đã từng được tựa đầu vào ngực của Đức Giêsu và đã từng từ Ngài được nhận Đức Maria như là Mẹ của mình, mới có thể nắm bắt được”.

Trong Giáo Hội, Đức Maria đã khai mào tâm hồn hay ơn gọi thứ hai nầy, tức là tâm hồn ẩn khuất và cầu nguyện, bên cạnh tâm hồn tông đồ hay hoạt động. Bức tranh truyền thống diễn tả biến cố Thăng Thiên, treo trên bức tường phải của ngôi nhà nguyện Redemptoris Mater (Mẹ Đấng Cứu Chuộc) nầy, là một diễn tả tuyệt vời cho điều đó. Đức Maria đứng, hai tay giang rộng, trong tư thế cầu nguyện. Chung quanh Mẹ, các tông đồ, tất cả đều trong tư thế một chân và một tay giơ lên, nói cách khác, là đang trong tư thế chuyển dịch, nhằm diễn tả Giáo Hội đang lên đường ra đi làm sứ vụ, nói và hành động. Đức Maria đứng bất động, bên dưới Chúa Giêsu, ngay tại nơi mà Đức Giêsu được dưa lên Trời, như muốn nói để ghi dấu mãi kỷ niệm nầy và đợi chờ ngày Đức Giêsu trở lại.

Chúng ta hãy kết thúc bài suy niệm nầy bằng cách nghe lại những lời cuối cùng trong thông điệp “Evangelii nuntiandi” (“Tin Mừng cần phải loan báo”) của Đức Thánh Cha Phaolô VI, nơi mà lần đầu tiên trong những tài liệu giáo hoàng, tên Mẹ Maria được đi kèm theo với tước hiệu “Ngôi Sao loan báo Tin Mừng” : “Vào buổi sáng ngày Lễ Ngũ Tuần, Mẹ Maria đã chủ tọa trong buổi cầu kinh để bắt đầu nỗ lực loan báo tin mừng, dưới tác động của Thánh Thần. Ước gì Mẹ là Ngôi Sao của nỗ lực loan báo tin mừng, vốn luôn được làm cho mới mẻ, mà Giáo Hội, vâng theo lệnh truyền của Đức Chúa của mình, cần phải động viên cổ vũ và phải hoàn tất, nhất là trong thời buổi khó khăn nhưng cũng tràn đầy hy vọng nầy !”

Ghi chú :

1- S. Jérôme, Comm. Sur Ezéchiel, III, 25, préf.; cf. Lettres LX, 18; CXXIII, 15-16; CXXVI, 2.
2- S. Léon le Grand, Sermon 82.
3- Grégoire de Tours, Historia Francorum, II, 31.
4- Jean-Paul II, Redemptoris missio, 55.
5- L.G., 18.
6- Legenda Perugina, 80 (FF, 1636).
7- Origène, Commentaire sur l’Evangile de Jean, I, 6, 23 (SCh, 120, p. 70).

[Bản Pháp ngữ của Zenit (Isabelle Cousturié), Bản Việt ngữ của linh mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung (giáo phận Phan Thiết)].
Nguồn:  http://www.vietcatholic.net/News/Html/95080.htm

Mittwoch, Januar 04, 2012

Mùa Vọng 2011 Giảng cho Giáo Triều Roma: ''Hãy đi khắp cùng thế giới'' (1)LM Raniero Cantalamessa, ofm.1/3/2012

BỐN BÀI GIẢNG CỦA CHA RANIERO CANTALAMESSA, OFM
CHO GIÁO TRIỀU VATICAN MÙA VỌNG NĂM 2011,
VỀ NHỮNG NỖ LỰC TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI HÔM QUA VÀ HÔM NAY
Với mong muốn đáp ứng phần nào lời mời gọi của Đức Thánh Cha BÊNÊĐICTÔ XVI về nỗ lực Truyền giáo và Tái truyền giáo của Giáo Hội hiện nay, xin trân trọng gửi đến quí vị độc giả bản dịch 4 bài giảng của linh mục Raniero Cantalamessa, ofmcap., giảng cho Giáo triều Vatican trong Mùa Vọng 2011 vừa qua (bản Việt ngữ của linh mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung, giáo phận Phan Thiết) :

BÀI I: “HÃY ĐI KHẮP CÙNG THẾ GIỚI”

Đợt sóng loan báo tin mừng thứ nhất.

Nhằm đáp ứng lời mời gọi của Đức Thánh Cha cần có những nỗ lực mới rao giảng tin mừng và chuẩn bị cho Thượng Hội đồng các Giám mục năm 2012, trong những bài suy niệm Mùa Vọng năm nay, về chủ đề nầy, tôi xin mạn phép được tự giới hạn trong 4 đợt sóng loan báo tin mừng mới, hay còn gọi là 4 thời đoạn mà trong lịch sử Giáo Hội vốn được ghi dấu bởi một sự tăng tốc hay lấy lại đà lực khá ngoạn mục trong nỗ lực dấn thân truyền giáo. Đây là 4 thời đoạn đó :

1- Ba thế kỷ truyền bá kitô-giáo đầu tiên, cho đến trước khi sắc lệnh của hoàng đế Constantin được ban hành : đây là thời kỳ mà các nhân vật then chốt trong nỗ lực nầy trước tiên đó là các ngôn sứ, rồi đến các giám mục;
2- Các thế kỷ từ VI đến IX, sau làn sóng xâm nhập châu Âu của các dân tộc man di : đây là thời kỳ chứng giám một đợt sóng loan báo tin mừng mới, chủ yếu nhờ vào các đan sĩ (moines);
3- Thế kỷ XVI, với việc khám phá và trở lại kitô-giáo của “tân thế giới” (“nouveau monde”), nhờ vào nỗ lực của các tu sĩ (religieux);
4- Thời kỳ hiện tại chứng giám việc Giáo Hội dấn thân vào một nỗ lực loan báo tin mừng mới ở phương Tây đang bị tục hóa, với sự tham gia có tính quyết định của hàng ngũ giáo dân.

Ở nơi mỗi thời kỳ, tôi sẽ cố gắng đưa ra ánh sáng điều mà chúng ta có thể học hỏi cho Giáo Hội ngày hôm nay : đâu là những sai lầm cần phải tránh, và đâu là những tấm gương sáng cần học hỏi bắt chước, và đâu là đóng góp đặc thù mà các đan sĩ, các tu sĩ sống đời sống tông đồ và các giáo dân đã có thể mang lại cho nỗ lực loan báo tin mừng nầy.

I- Kitô-giáo lan truyền, trong ba thế kỷ đầu tiên.

Chúng tôi sẽ bắt đầu với suy tư về nỗ lực loan báo tin mừng kitô trong ba thế kỷ đầu. Nhất là vì giai đoạn nầy trở thành như mô mẫu cho tất cả mọi thời. Đó là giai đoạn mà kitô-giáo tự mày mò để tim ra hướng đi, hoàn toàn chỉ dựa trên sức riêng của mình. Chẳng có “bàn tay thế tục nào” để mà nương tựa cả; các cuộc trở lại chẳng phải là do có sự hậu thuẫn nào từ bên ngoài, vật chất hay văn hóa; là kitô-hữu chẳng phải là do thói quen hay là vì đó là một thứ “mốt thời đại”, mà là một chọn lựa phải lội ngược giòng, và nguy cơ đến tính mạng thường luôn rình rập bên mình. Trong một nghĩa nào đó, đây cũng là thực tế mà một số kitô-hữu trong một số vùng đất nào đó của thế giới hôm nay vẫn còn đang phải đối diện với.

Niềm tin kitô nẫy sinh ra cùng lúc với việc Giáo Hội cởi mở ra với chiều kích toàn thể. Đức Giêsu đã nói với các môn đệ của Ngài là “hãy đi khắp cùng thế giới”” (Mc 16, 15), “hãy thu nạp các môn đệ từ khắp muôn dân” (Mt 28, 19), hãy là những chứng nhân của Ngài “đến tận mút cùng trái đất” (Cv 1, 8), hãy “loan báo cho chư dân vì danh Ngài mà hãy quay trở về để được thứ tha tội lỗi” (Lc 24, 47).

Việc áp dụng nguyên tắc dựa trên tính phổ quát nầy đã thấy xuất hiện ngay trong thế hệ các tông đồ, tuy nhiên, không phải là không có những khó khăn và cả những chia rẽ mất mát. Ngày Lễ Ngũ Tuần, rào cản đầu tiên được gỡ đi đó là rào cản chủng tộc (3000 người tòng giáo thuộc nhiều dân tôc khác nhau, nhưng tất cả đều là những tân tòng mới theo Do Thái giáo); trong nhà của Corneille và nơi Công đồng được gọi là “Giêrusalem”, nhất là dưới sức ép của Phaolô, rào cản khó khăn nhất trong tất cả mọi rào cản, đó là rào cản tôn giáo vốn chia cách giữa những người Do thái và lương dân, đã được vượt qua. Kể từ nay, trước mặt Tin Mừng là toàn thể thế giới, ngay như cho dù trước con mắt hiểu biết của những người đương thời, thế giới nầy chỉ giới hạn trong cái lòng chảo của miền Địa Trung hải, và ranh giới là biên thùy của Đế quốc Roma.

Vấn đề đi sát theo quá trình bành trướng của kitô-giáo cách cụ thể hay dựa trên địa lý trong suốt ba thế kỷ đầu, vốn là vấn đề phức tạp hơn nhiều, nhưng nói cho cùng, đó không phải là mục đích của chúng tôi ở đây. Nghiên cứu đầy đủ nhất hiện nay về chủ đề nầy là của Adolph von Harnack, “Mission et expansion du Christianisme aux trois premiers siècles” (Công cuộc truyền giáo và sự bành trướng của Kitô-giáo trong ba thế kỷ đầu). Trong Giáo Hội, hoạt động truyền giáo thấy được đẩy mạnh dưới thời hoàng đế Commode (180-192) và rồi trong hạ bán thế kỷ II, tức là ngay trước lúc diễn ra cơn bách hại lớn dưới triều Dioclétien (302). Không kể một vài cuộc bách hại lẻ tẻ nào đó mang tính cục bộ địa phương, đây quả là thời kỳ mà Giáo Hội sơ khai đã có thể tự ổn định về mặt nội bộ bên trong, và đang triển khai một sinh hoạt truyền giáo mang một dung mạo mới.

Chúng ta sẽ xem xét đâu là cơ sở của đặc tính mới mẻ nầy. Trong suốt hai thế kỷ đầu, việc truyền bá đức tin chủ yếu là sáng kiến của các cá nhân. Các ngôn sứ lang thang, mà sách Didaché có đề cập tới, di chuyển từ nơi nầy đến nơi khác; nhiều cuộc trở lại vốn là kết quả của những tiếp xúc cá nhân, giữa những người có cùng chung một ngành nghề nào đó, qua những chuyến hành trình chung và qua những quan hệ làm ăn buôn bán, qua việc cùng nhập ngũ với nhau hay qua những hoàn cảnh sống khác nữa bất kỳ. Origène cung cấp cho chúng ta một hình ảnh đầy xúc động về lòng nhiệt thành của những nhà truyền giáo tiên khởi như thế nầy :

“Các kitô-hữu đã làm hết sức mình tất cả gì có thể để truyền bá niềm tin trong thế giới. Mốt số người, nhằm mục đích nầy, đã chọn lối sống dành cả cuộc đời cho công việc truyền giáo, đi từ thành nầy sang thành khác, kể cả từ thị trấn nầy sang thị trấn khác và từ biệt thự nầy sang biệt thự khác, nhằm đưa được càng nhiều tín hữu mới về cho Đức Chúa. Và, tôi vẫn hy vọng thế, chẳng có ai lại đi nói rằng những người nầy làm thế là có ý nhằm mang lại một chút lợi lộc nào đó cho bản thân mình, bởi vì những người nầy vẫn khước từ ngay cả những gì cần thiết cho cuộc sống của mình.”.

Đã đến lúc, và lúc nầy đây, tức là trong hạ bán thế kỷ III, các sáng kiến cá nhân nầy dần dần ngày càng được điều phối lại nhằm mục đích chung và một phần được thay thế bởi cộng đoàn địa phương. Vị giám mục, có lẽ chỉ do bởi phản ứng chống lai những khuynh hướng phá hoại của lạc giáo ngộ đạo thuyết, đã được đưa đẩy đến chỗ vị trí còn vượt lên trên cả các thầy, đóng vai trò trung tâm trong đời sống bên trong của cộng đoàn, và như vậy còn trở thành đầu kéo của hoạt động truyền giáo. Cộng đoàn, kể từ đó, là chủ thể truyền giáo, đến độ một chuyên viên như Harnack, mà không ai có thể nghi ngờ thịnh tình của ông ta đối với cơ chế nầy, đã có thể khẳng định : “Chúng ta cần phải công nhận rằng việc kitô-giáo được lan truyền như vậy, nhân tố chính đó là sự hiện hữu và nỗ lực bền bĩ dẻo dai của từng mỗi cộng đoàn”.

Vào cuối thế kỷ III, niềm tin kitô trên thực tế đã xâm nhập được vào trong tất cả các giai tầng xã hội. Niềm tin kitô, kể từ nay, có nền văn chương riêng của mình bằng ngôn ngữ Hy lạp, và một nền văn chương khác nữa, vừa mới manh nha bắt đầu, bằng tiếng Latinh. Cơ cấu bên trong của niềm tin đó đã ổn định. Niềm tin kitô bắt đầu xây dựng được những công trình ngày càng rộng lớn hơn, đó là dấu chỉ cho thấy con số tín hữu đã ngày càng gia tăng. Cuộc bách hại đạo lớn dưới thời Dioclétien, ngoài việc có nhiều nạn nhân, càng chứng tỏ cho thấy kể từ nay niềm tin kitô đã là một sức mạnh không thể nào có thể kìm hãm được. Cánh tay sắt vừa mới vung ra đó giữa đế quốc và kitô-giáo chứng tỏ cho thấy điều đó.

Constantin, thực ra, chỉ làm cái việc hợp pháp hóa tương quan sức mạnh mới đó mà thôi. Không phải Constantin sẽ áp đặt kitô-giáo cho quần chúng, mà chính quần chúng sẽ áp đặt kitô-giáo cho Constantin. Những khẳng định như kiểu của Dan Brown trong cuốn tiểu thuyết của ông ta : “Da Vinci code” và những kẻ phổ biến khác, theo đó, Constantin, vì những lý do cá nhân, qua một sắc lệnh ân xá và với Công đồng Nicée, đã biến một giáo phái gốc Do thái giáo vốn không mấy ai biết đến trước đó thành tôn giáo của đế quốc, chứng tỏ đã hoàn toàn không biết gì về điều đã xẫy ra trước những biến cố nầy.

II- Những nguyên nhân dẫn đến thành công

Một vấn nạn vẫn luôn làm say mê các sử gia, đó là những lý do nào đã dẫn kitô-giáo đến chỗ chiến thắng khải hoàn như vậy. Một sứ điệp đã vang lên trong một xó góc tối tăm và bị khinh rẻ của đế quốc, giữa những đám dân đen giản đơn, không văn hóa và không quyền lực, mà trong chưa đầy 3 thế kỷ, đã lan tràn ra đến tận cả nơi thế giới vốn được nhiều người biết đến thời đó, và cuối cùng thống trị trên cả nền văn hóa đỉnh cao của những người Hy lạp và trên cả sức mạnh quyền lực vô địch của đế quốc Roma ! Giữa những lý do dẫn đến thành công khác nhau, một số người nhấn mạnh trên tình yêu kitô và việc tích cực thực thi đức bác ái, đến độ biến công việc thực thi bác ái nầy thành “yếu tố chủ đạo mạnh mẽ nhất, có một không hai, dẫn đến thành công của niềm tin kitô”, đến độ người ta còn qui kết cho hoàng đế Julien l’Apostat cái việc sau nầy vì muốn cạnh tranh với thành công của những người kitô-hữu đã chủ trương người ngoại giáo cũng cần phải có những công việc bác ái như vậy.

Harnack, về phần mình, gán một tầm quan trọng lớn cho điều mà ông ta gọi là bản chất “dung nạp” (la nature “syncrétiste”) của niềm tin kitô, tức là khả năng hòa hợp nơi mình những khuynh hướng vốn đối nghịch nhau và những giá trị khác nhau hiện diện trong các tôn giáo và trong nền văn hóa đương thời. Kitô-giáo, đồng thời, trong cùng lúc vừa hiển hiện ra như tôn giáo của Thần Khí và của sức mạnh, tức là còn được kèm theo bởi những dấu chỉ siêu nhiên, bởi những đặc sủng và những phép lạ, vừa như tôn giáo của lý trí và của Ngôi Lời toàn thể (Logos intégral), như là “nền triết học thực sự” (la vraie philosophie), theo lối nói của thánh tử đạo Justin. Các tác giả kitô là “những nhà duy lý về cái siêu nhiên”, Harnack khẳng định khi trích dẫn Phaolô và các lời nói của ngài về niềm tin được diễn tả như là “sự tôn thờ đích thực” (Rm 12, 1).

Theo cách đó, trong một tình trạng quân bình hoàn hảo, kitô-giáo đã tập hợp lại được trong mình điều mà triết gia Nietzsche đã định nghĩa như là sự liên kết giữa yếu tố thuộc thần Apolon và yếu tố thuộc Thần rượu của tôn giáo Hy lạp, giữa Lời (Logos) và Thần Khí (Pneuma), giữa trật tự và nhiệt tình, giữa chừng mực và thái quá. Đó chính là điều mà các Giáo Phụ, ít nhất là một phần, đã hiểu qua đề tài “cơn say ngất Thần Khí thanh nhã” (la “sobre ivresse de l’Esprit”).

“Ngay từ đầu, - nơi cuối cùng của công trình nghiên cứu đồ sộ của mình, Harnack viết – tôn giáo kitô đã để lộ cho thấy một thứ chiều kích phổ quát, vốn đã cho phép tôn giáo nầy thu nạp được vào mình toàn bộ đời sống, cùng với toàn bộ những chức năng, những chiều đi lên và những chiều sâu, những cung bậc tình cảm, những tư duy và những hành động của nó. Chính tinh thần phổ quát nầy đã bảo đảm cho kitô-giáo có được chiến thắng đó. Đó chính là điều đã dẫn kitô-giáo đến chỗ dám tuyên xưng rằng Đức Giêsu mà nó đang loan báo là Lời Thiên Chúa…Một tia sáng mới đang rọi soi cho nó, và sức cuốn hút mạnh mẽ mà đã khiến cho kitô-giáo đạt được đến chỗ hấp thu luôn cả Nền văn minh Hy lạp, khiến cho nền văn minh đó lụy phục mình, để lộ ra cho thấy đó như là một sự tất yếu. Tất cả gì, cách nào đó, vẫn còn có khả năng mang trong mình sự sống đều nhập được vào như một yếu tố trong cấu trúc của nó… Làm sao mà một tôn giáo như thế lại có thể không thành công được chứ ?”

Ấn tượng chung mà người ta có khi đọc tổng hợp nầy đó là thành công của kitô-giáo vốn tùy thuộc vào cả một tổ hợp bao gồm nhiều nhân tố. Một số người còn đi xa trong nỗ lực tìm kiếm những nguyên nhân của một thành công như vậy, đến độ đã tìm thấy có đến 20 lý do thuận lơi cho niềm tin và cũng từng ấy lý do cản trở sự phát triển của niềm tin, như kiểu lối thoát cuối cùng tùy thuộc vào chiến thắng của những yếu tố thuận lợi trên những yếu tố không thuận lợi.

Ngay bây giờ đây, tôi muốn chứng tỏ cho thấy hạn chế của một lối tiếp cận dựa trên lịch sử như vậy, mặc dù cung cách tiếp cận nầy có được tiến hành bởi những sử gia tín hữu như những người mà tôi đã nêu lên cho đến lúc nầy. Giới hạn nầy, vốn nằm ở nơi chính phương pháp lịch sử, đó là do người ta đã quá chú trọng đến chủ thể hơn là đối tượng của nỗ lực truyền giáo, đến những người loan báo tin mừng và những điều kiện trong đó nỗ lực truyền giáo diễn ra hơn là đến chính nội dung của nỗ lực nầy.

Lý do thúc đẩy tôi phải làm điều nầy, bởi vì giới hạn nầy cũng là giới hạn và nguy cơ mà người ta thường gặp thấy trong nhiều lối tiếp cận hiện nay và trên các phương tiện truyền thông, khi nói về nỗ lực mới rao giảng tin mừng. Người ta quên một điều hết sức đơn giản : đó là chính Đức Giêsu đã cho chúng ta biết trước một lối giải thích về việc lan truyền Tin Mừng của Ngài rồi, và mỗi lần muốn chuẩn bị cho một nỗ lực truyền giáo mới, chúng ta cần phải lại khởi đi từ đó.

Chúng ta hãy nghe lại 2 dụ ngôn ngắn của tin mừng, dụ ngôn hạt giống được gieo và lớn lên ngay cả trong đêm khuya và dụ ngôn hạt cải bé tí. “Đức Giêsu nói : ‘Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nẫy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. Đất tự động sinh ra hoa màu : trước hết cây lúa mọc lên, rồi trỗ đòng đòng , và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. Lúa vừa chín, người ấy đem liềm hái ra gặt, vì đã đến mùa’.” (Mc 4, 26-29).

Dụ ngôn nầy, chỉ mình nó thôi, cũng đã đủ đế nói với chúng ta rằng lý do thành công chủ yếu của nỗ lực truyền giáo kitô không đến từ bên ngoài, mà đến từ bên trong, rằng công cuộc truyền giáo không phải là công trình của người gieo giống, cũng chẳng phải là của đất đai, mà là của chính hạt giống được gieo. Hạt giống không thể tự mình gieo xuống lòng đât, tuy nhiên, hạt giống cách tự động và tự mình nẫy mầm. Sau khi gieo hạt giống xuống đất, người gieo giống có thể an tâm đi ngủ, sự sống còn của hạt giống không còn lệ thuộc vào ông ta nữa. Khi hạt giống nầy là “hạt giống được gieo vào lòng đất và chết đi”, Đức Giêsu còn nói, thì chẳng có gì có thể ngăn cản nó “mang lại nhiều hoa trái”. Về những thứ hoa trái nầy người ta có thể đưa ra đủ thứ giải thích mà người ta muốn, những giải thích nầy dầu vậy vẫn luôn chỉ nằm ở bề mặt của vấn đề mà thôi, chứ không bao giờ nắm bắt được điều chính yếu.

Tông đồ Phaolô, cách sáng suốt, là người đã dành ưu tiên hàng đầu cho đối tượng của loan báo so với chủ thể : “Tôi trồng, Apollo tưới : nhưng chính Thiên Chúa mới là Đấng làm cho tăng trưởng”. Những lời nầy xem ra bình chú dụ ngôn của Đức Giêsu. Ba công việc nầy không phải có cùng mức độ quan trọng như nhau; thật vậy, vị tông đồ còn thêm : “Vì thế, kẻ gieo chẳng là gì, người tưới cũng chẳng là chi; duy chỉ có Đấng làm cho tăng trưởng mới là đáng kể !” (1 Cr 3, 6-7). Khoảng cách biệt trên cơ sở phẩm tính như thế giữa chủ thể và đối tượng của loan báo còn được tìm thấy trong một lời khác của Vị Tông đồ : “Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa , chứ không phải từ chúng tôi” (2 Cr 4, 7). Tất cả điều đó được diễn dịch ra trong những tiếng kêu trần tình như đã được định sẵn trước : “Không phải chúng tôi rao giảng chính mình, mà là rao giảng Đức Giêsu-Kitô, Chúa chúng tôi !”; hay còn nữa : “Chúng tôi rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá”.

Đức Giêsu còn công bố một dụ ngôn thứ hai trên cơ sở hình ảnh hạt cải, nhằm giải thích thành quả của công cuộc truyền giáo kitô, và vẫn còn đầy ý nghĩa đối với ngày hôm nay, khi mà Giáo hội đang đầu tư cho một nỗ lực mênh mông nhằm tái-tin mừng-hóa lại cái thế giới đang bị tục hóa nầy.

“Đức Giêsu nói : ‘Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây ? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được ? Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng.’.” (Mc 4, 30-32).

Giáo huấn mà Đức Giêsu muốn dạy ta qua dụ ngôn nầy đó là Tin Mừng của Ngài, chính Ngôi Vị của Ngài, là tất cả gì vốn rất nhỏ bé trên mặt đất nầy, vì rằng chẳng còn gì nhỏ bé hơn và yếu ớt hơn là một cuộc đời chấm dứt với một cái chết nhục nhã trên thập tự giá. Tuy nhiên, “hạt cải nhỏ bé nầy” lại đã được định phần để trở nên một cây to lớn, to lớn bao la đến độ các cành của nó có khả năng đón nhận tất cả mọi giống chim trời đến trú ngụ. Điều đó có nghĩa là toàn thể thụ tạo, đúng vậy, toàn thể, sẽ đến trú ẩn trên đó.

Một lối nhìn khác lạ biết bao so với những tái cấu trúc trình bày qua lăng kính lịch sử như đã được nêu lên trên đây ! Nơi những lối nhìn lịch sử đó, tất cả đều có vẻ không chắc chắn, bấp bênh, bị treo lơ lững giữa khả năng thành công và khả năng thất bại; còn ở đây, tất cả đều đã được quyết định và bảo đảm ngay từ đầu ! Trong đoản văn nói về việc xức dầu ở Béthanie, Đức Giêsu đã kết luận với những từ nầy : “Thầy bảo thật anh em : Tin Mừng nầy được loan báo bất cứ nơi nào trong khắp thiên hạ, thì người ta cũng sẽ kể lại việc cô vừa làm mà nhớ tới cô.” (Mt 26, 13). Cũng cùng một ý thức thanh thản đó rằng một ngày nào đó sứ điệp của mình sẽ được lan tỏa ra “trên khắp cùng thế giới”. Đã hẳn, đây không phải là một lời tiên tri “sau khi đã xãy ra sự việc” (“post eventum”), vì rằng ngay thời điểm lời nầy được nói ra tất cả cho thấy là tình hình có vẻ đi theo chiều hướng ngược lại.

Cả nơi điều nầy cũng vậy, giữa tất cả, Phaolô vẫn là người nắm bắt được cách tốt nhất “mầu nhiệm được dấu kín”. Có một sự kiện vẫn luôn luôn làm cho tôi cảm kích xúc động : Vị Tông đồ đã giảng đạo tại Quảng Trường tự do ở Athènes và đã phải chịu việc người ta từ chối sứ điệp của mình, cách khá lịch sự, kèm theo lời hứa là sẽ nghe lại một dịp khác. Ở Corinthe, nơi mà Phaolô đã đi tới ngay sau đó, ngài đã viết Thư gửi những Tín hữu Roma, trong đó ngài khẳng định đã nhận được mênh lệnh phải cố gắng dẫn đưa “mọi dân nước đến chỗ tuân phục đức tin” (Rm 1, 5-6). Thất bại ở Athènes không mảy may đụng chạm gì đến niềm tín thác mà ngài vẫn có nơi sứ điệp nầy : “Vâng, tôi không hổ thẹn vì Tin Mừng. Quả thế, Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin, trước là người Do Thái, sau là người Hy lạp.” (Rm 1, 16).

“Mỗi thứ cây, - Đức Giêsu nói – được nhận ra nhờ nơi quả của nó.” (Lc 6, 44). Điều đó có giá trị đối với mọi thứ cây, ngoại trừ cây vốn xuất ra tự Ngài, cây Kitô-giáo (và thật vậy, ở đây Ngài nói về những con người); kitô-giáo là thứ cây duy nhất người ta không nhận ra được nhờ nơi các quả của nó, mà là nhờ nơi gốc rễ của nó. Trong kitô-giáo, tình trạng viên toàn không ở nơi cùng tận, như trong biện chứng pháp của Hégel về cái trở thành (“cái thật là tất cả”), mà đã có ngay tự ban đầu; chăng có trái trăng nào, thậm chí cả nơi các vị thánh vĩ đại nhất, thêm thắt được gì vào tình trạng hoàn hảo của mô mẫu. Trong chiều hướng nầy, quả là có lý kẻ đã khẳng định rằng “kitô-giáo không phải là cái gì có thể hoàn thiện” (“le christianisme n’est pas perfectible”).

III- Gieo hạt giống xuống, rồi…đi nằm ngủ

Điều mà các sử gia về kitô-giáo thời khai nguyên đã không lưu ý, hoặc đã đánh giá là không mấy quan trọng, đó là niềm xác tín không thể nào kiểm soát nổi mà các kitô-hữu ngày xưa, chí ít là những phần tử ưu tú trong bọn họ, đã có đối với cái vẻ tốt đẹp và chiến thắng cuối cùng của vụ việc của họ. “Các ông có thể giết chết chúng tôi, nhưng không bao giờ làm hại được chúng tôi”, thánh tử đạo Justin đã nói như vậy với vị quan tòa Roma đã kết án tử cho ngài. Sau cùng, chính niềm xác tín thanh thản đó đã bảo đảm chiến thắng cho các kitô-hữu sơ khai, đã khiến cho các thẩm quyền chính trị bị khuất phục để nhận ra được sự vô ích của những nỗ lực của họ nhằm loại bỏ niềm tin kitô.

Đó chính là điều mà ngày hôm nay chúng ta đang cần hơn cả : nơi các kitô-hữu, chí ít nơi những kẻ cho mình có nhiệm vụ cống hiến đời mình cho công trình loan báo tin mừng mới nầy, hãy đánh thức nơi họ niềm xác tín thâm sâu về sự thật của điều mà họ đang loan báo. “Giáo Hội, - một ngày kia Đức Thánh Cha PHAOLÔ VI đã nói,- có nhu cầu cần phải tìm lại nỗi thao thức ưu tư, sở thích và niềm xác tín chắc chắn về chân lý của mình”. Chúng ta phải là những người đầu tiên tin nơi điều mà chúng ta loan báo; nhưng phải tin thực sự mới được. Chúng ta phải có thể nói cùng với Phaolô : “Vì có được cùng một lòng tin, như đã chép : Tôi đã tin, nên tôi mới nói, thì chúng tôi cũng tin, nên chúng tôi mới nói.” (2 Cr 4, 13).

Công việc cụ thể mà hai dụ ngôn của Đức Giêsu trao phó cho chúng ta đó là gieo hạt giống. Gieo không tiếc tay, “lúc thuận cũng như lúc nghịch” (2 Tm 4, 2). Người gieo giống của dụ ngôn ra đi gieo hạt giống chẳng quan tâm gì đến chuyện một phần của hạt giống sẽ rơi trên đường đi và một phần khác rơi vào bụi gai, và phải nói rằng người gieo giống nầy, nằm ngoài dụ ngôn, chính là Đức Giêsu ! Vì chưng, trong trường hợp nầy, người ta không thể nào biết trước được đâu là mãnh đất tốt hay rắn cứng như đường rải nhựa và bóp nghẹt như một bụi gai. Đây chính là chỗ còn tùy vào tự do mà con người vốn không thể nào tiên liệu trước được và chính Thiên Chúa cũng chẳng muốn thô bạo can thiệp vào. Biết bao lần trong cuộc sống người ta đã chẳng khám phá ra rằng, giữa những người đã nghe bài giảng nào đó hay đã đọc một cuốn sách nào đó, kẻ thực sự nghiêm túc quan tâm tới nó và nhờ đó đã thay đổi được cuộc sống của mình, lại là kẻ mà người ta ít chờ đợi nhất, là kẻ đã có mặt ở đấy có khi chỉ cách tình cờ hay có khi chỉ vì miễn cưỡng ? Trong đời mình, tôi cũng đã chứng kiến cả hàng chục trường hợp như vậy.

Vì thế, hãy cứ gieo hạt giống xuống đất, và rồi sau đó…đi ngủ ! Nói cách khác, cứ gieo giống đi và rồi đừng cứ ở mãi đó để nhìn xem khi nào hạt giống mọc lên, ở đâu nó mọc lên, mỗi ngày nó mọc lên được bao nhiêu centimét. Việc bén rễ và tăng trưởng ra sao không phải là việc của chúng ta, mà là việc của Thiên Chúa và của kẻ nghe. Một nhà hài hước nổi tiêng nước Anh thế kỷ XIX, Jerome Klapka Jerome, có nói rằng cách tốt nhất để làm cho quá trình sôi chín trong một cái soong chậm lại đó là người ta cứ ở lại bên trên và thấp thỏm đợi chờ.

Làm ngược lại chỉ tổ gây ra bao lo âu và mất kiên nhẫn mà thôi : khi còn ở trên trái đất, Đức Giêsu đã không thích như thế và cũng không bao giờ làm thế. Các sách Tin Mừng cho thấy hình như Đức Giêsu không bao giờ tỏ ra vội vã. “Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai : ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.” (Mt 6, 34).

Về chuyện nầy, nhà thơ tín hữu Charles Péguy đặt vào môi miệng Thiên Chúa những lời mà cũng đáng cho chúng ta suy ngẫm :

“Người ta nói với Ta rằng có những con người
Lao động thì tốt mà ngủ thì không tốt.
Chúng không ngủ. Ôi ! Đó là dấu chỉ chúng không tín thác nơi Ta !
Đó là điều nghiêm trọng, vì thà rằng chúng không lao động mà ngủ còn hơn, vì tội lười biếng thì nhẹ hơn cái tội bất an…
Ta không nói về, Thiên Chúa phán, những con người
Không lao động mà cũng chẳng ngủ.
Đó là những con người tội lỗi, dĩ nhiên…
Ta nói về những kẻ lao động mà không ngù…
Ta phàn nàn về chúng. Ta oán giận chúng. Một chút. Chúng đã không tín thác vào Ta.

Ban ngày, chúng điều hành công việc của chúng rất tốt.
Nhưng ban đêm, chúng không muốn phó thác công việc điều hành ấy cho Ta…
Kẻ nào không ngủ là không trung thành với Đức Cậy…”.

Những suy tư, như đã được trình bày trong bài suy niệm nầy, cổ vũ chúng ta, như một kết thúc, hãy lấy Đức Tin và Đức Cậy mạnh mẽ làm nền tảng cho mọi dấn thân trong nỗ lực loan báo Tin Mừng mới, hãy gạt bỏ ra khỏi chúng ta mọi thứ cảm giác bất lực và nhẫn nhục cam chịu. Trước mắt chúng ta, thật vậy, là cả một thế giới đang bị tục hóa, đang say sưa vì những thành quả đạt được trong lãnh vực kỹ thuật và vì những khả thể mà khoa học có thể cống hiến cho, trơ lì với loan báo Tin Mừng. Nhưng, thế giới của những kitô-hữu đầu tiên – thế giới Hy lạp với kho tàng kiến thức đồ sộ của nó và đế quốc Roma với sức mạnh của nó – cách ngẫu nhiên trùng hợp, lại đã chẳng kém phần trơ lì với tin mừng đó sao ?

Nếu có một điều mà chúng ta có thể làm, sau khi “đã gieo hạt giống xuống đất”, thì đó là công việc, bằng kinh nguyện, “tưới nước” lên hạt giống đã gieo. Vì thế, chúng ta hãy kết thúc bài suy niệm nầy bằng kinh nguyện mà phụng vụ đã muốn cho chúng ta đọc trong Thánh Lễ “cầu nguyện cho việc loan báo Tin Mừng cho muôn dân” :

Lạy Thiên Chúa, Chúa vẫn hằng muốn tất cả mọi người đều được cứu độ
Và nhận biết được chân lý;
Xin Chúa hãy nhìn xem mùa màng bát ngát bao la biết bao nhiêu, và xin hãy sai các thợ gặt đến,
Để Tin Mừng được loan báo cho từng mỗi thụ tạo
Và để dân của Ngài, được qui tụ lại nhờ lời hằng sống
Và được khuôn đúc bởi sức mạnh của các bí tích, được tiến lên trên con đường cứu độ và tình yêu.
Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

[Bản Pháp ngữ của Zenit (Isabelle Cousturié), Bản Việt ngữ của linh mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung (giáo phận Phan Thiết)].
Nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Html/95079.htm

Dienstag, Januar 03, 2012

Việc Tôn Sùng Ðức Mẹ Trong Lịch Sử Giáo Hội (4)
Nhà thần học của giáo hội Tin Lành Lutheran, Wolfhart Pannenberg, có lần đã viết rằng Kitô học (Christology) là việc giải thích sự trọng đại của một dữ kiện lịch sử, trong khi Thánh Mẫu học (Mariology) thì cố gắng nhân hóa những phản ứng đặc sắc trong đức tin về dữ kiện đó. Pannenberg kết luận rằng, trong lịch sử Kitô giáo, Ðức Maria, xét như một biểu tượng, thì quan trọng hơn nhiều, so với việc nhìn vào Mẹ như một nhân vật lịch sử.

Tìm hiểu vai trò của Ðức Maria trong lịch sử Kitô giáo là làm một cuộc du hành qua nhiều thời đại, không phải chỉ trong sự phát triển thần học, nhưng cả về những khao khát tiềm ẩn và biểu trưng nữa. Thật là cả mê hoặc lẫn linh ứng - nếu không muốn nói là rất nghịch lý - khi thấy rằng Kinh Thánh Kitô giáo, qúa nam tính trong sự nhấn mạnh đến Ðức Gia-Vê (Yahweh) và Con Trai của Ngài, nhưng lại đưa sự tôn kính của các tín hữu đến một nhân vật được nhìn nhận là bản chất của nữ tính.

Ðức Maria là một người nữ đã được xưng tụng qua nhiều tước hiệu: Trinh Nữ, Bạn Ðồng Trinh, Nữ Tì, Hiền Mẫu, Nữ Vương, Ðấng Cứu Giúp, Ðấng Trung Gian và Ðấng làm hoàn tất những tiên tri trong Cựu Ước. Những tước hiệu đó đã đưa đến những thái cực khác nhau: Một nữ trinh nhưng lại là một hiền mẫu, một nữ tì nhưng lại là một nữ vương, một đại diện đơn hèn của kẻ khó trong dân Do Thái nhưng lại là “một Bà y phục rực rỡ như mặt trời.” Những đối nghịch đó trở nên rõ ràng hơn khi người ta chấp nhận Ðức Maria đã cưu mang Thiên Tính trong Mẹ. Kinh Thánh đã không khai triển nghịch lý này, nhưng những suy tư Kitô giáo đã làm chuyện đó.

THỜI CÁC THÁNH PHỤ

Những căng thẳng và nghịch lý nói trên đã được tìm thấy qua lịch sử Kitô giáo, chúng đã được trưng bày cách rõ rệt qua hai quan niệm về Ðức Trinh Nữ trong thời các Thánh Phụ (những thế hệ lãnh đạo ngay sau thời các thánh Tông Đồ). Vào những thế kỷ thứ III và thứ IV, giáo hội Công Giáo đã có phong trào hướng về lối sống khổ tu (Asceticism). Trong khi đế quốc La Mã đang đi dần vào thời kỳ suy vong, hàng ngàn nam nữ tu sĩ đã đi vào sa mạc, sống một cuộc sống thật khổ hạnh để đền tội và ẩn tu. Ðối với những “lực sĩ của Chúa Kitô” này, con người của Maria, Ðức Trinh Nữ, đã được nâng lên thành nhân vật gương mẫu. Ðức Maria được ca tụng là một biểu tượng của đức khiêm nhường, ẩn dật, vâng phục và thanh khiết. Một khái luận nặc danh trong giáo hội Coptic, vào thế kỷ thứ IV, mô tả rằng Ðức Maria đã sống một đời sống trong cầu nguyện liên lỉ và chay tịnh, được các thiên thần chăm sóc, chỉ dẫn và hoàn toàn cách biệt với thế giới chung quanh Mẹ.

Thánh Jerome đã cực lực bênh đỡ sự đồng trinh của Ðức Mẹ, một phần do ảnh hưởng của lối sống khổ tu. Một vài ngụy thư (Apocrypha) mô tả Ðức Mẹ đã sống ẩn kín trong sự thánh thiện, một người giúp việc trong đền thờ, trước khi “đính hôn” (betrothed) với thánh Giuse. Ðiều đó trình bày một hình ảnh mạnh mẽ cho lối sống ẩn tu của nhiều tôi tớ ẩn dật của Chúa.

Ðức Maria, quan niệm như một tiêu biểu cho đời sống ẩn tu, đã khác hẳn với quan niệm thứ hai. Quan niệm này đã xưng tụng Ðức Mẹ qua tương quan mẫu tử trong sự nhập thể. Cũng trong hai thế kỷ nói trên, người ta đã phải chứng kiến cuộc “chiến tranh thần học” về những lãnh vực Thiên Chúa Ba Ngôi và bản tính của Ðức Kitô. Làm sao thiên tính và nhân tính của Chúa Kitô được bảo toàn mà không gây tổn hại lẫn nhau? Nếu Ðức Tin tông truyền tuyên xưng rằng Ðức Giêsu là một Ðấng đã nhận lãnh hai bản tính, nhân tính và thiên tính, thì chúng ta phải thêm rằng vì Ðức Maria là Mẹ của Ðức Giêsu cũng là Đấng Cứu Thế, Con Một của Thiên Chúa Cha, nên Mẹ cũng đã cưu mang Thiên Chúa trong lòng trước khi hạ sinh Ðức Giêsu. Ðó là điều mà Công Ðồng Êphêsô (Ephesus) tuyên xưng năm 431, đồng thời chính thức chấp nhận danh từ Theotokos (Ðấng Cưu Mang Thiên Chúa) là tước hiệu của Ðức Mẹ.

Trong khi Ðức Maria “thầm lặng” vẫn được các vị ẩn tu sùng kính qua các thế hệ, lý thuyết “Mẹ Thiên Chúa” đã đưa đến sự kích động mạnh mẽ cho việc tôn sùng Ðức Mẹ, trong một phương thức nghiêm trang và phấn khởi hơn nhiều. Sau thế kỷ thứ V, Ðức Maria bắt đầu được tôn kính trong một ý nghĩa mang nhiều tính cách oai nghiêm và vương gỉa. Người ta có thể nhận thấy điều này qua sự phát triển các nghệ thuật về Ðức Mẹ trong cả hai giáo hội Ðông Phương lẫn Tây Phương. Ðức Maria thường được họa đang ngồi oai nghiêm trên một chiếc ngai, hoặc đang đứng với con trẻ Giêsu, phô diễn toàn chính diện của bức họa. Quan niệm này đã được diễn tả qua các nghệ thuật Mosaic, Icon cũng như Fresco và minh họa trên ván, gỗ. Ngay cả những tác phẩm thời danh của Cimabue, Duccio và Giotto vào đầu thời Phục Hưng cũng vẫn còn mang nhiều âm hưởng của các nghệ thuật trong thời các Thánh Phụ.

THỜI TRUNG CỔ

Ðức Maria bắt đầu được gọi là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos) trong giáo hội Tây Phương (Latin) sau thời thánh Ambrose (340-397). Danh hiệu này đã là chủ đề thường xuyên trong Thánh Mẫu học và các nghệ thuật về Ðức Mẹ trong thời Trung Cổ. Ðôi khi, trong khoảng thế kỷ thứ XII, các nhà thần học đã nói đến Ðức Mẹ được đội triều thiên Nữ Vương Thiên Ðàng. Một vài nhà nghiên cứu đã cho rằng tư tưởng này được bắt đầu vào thời của Ðức Viện Phụ Suger (1081-1151), người được gọi là cha đẻ của các nghệ thuật kiến trúc kiểu Gothic. Ðức Suger là viện phụ của đan viện thánh Denis, đã có thời làm quan nhiếp chánh (Regent) cho triều đình và đồng thời là cố vấn cho vua Pháp. Nhân dịp này, ngài đã trình bày quan niệm về Ðức Mẹ với vòng triều thiên và là Nữ Vương.

Trường hợp điển hình nhất của các nghệ thuật Gothic về “Ðức Mẹ Triều Thiên” đã được diễn tả trong việc tái xây cất vương cung thánh đường ở thành phố Charles, qua nghệ thuật kiến trúc, các tượng ảnh và các cửa kính màu (stained glass windows).

Lòng sùng kính Ðức Mẹ trong thời Trung Cổ đã không diễn tả cách giới hạn qua việc xây cất những vương cung thánh đường đồ sộ, nhưng còn là cảm tình sâu xa đã nối kết tất các tầng lớp dân chúng trong thời đó. Việc sùng kính này đã phát triển qua sự dồn ép của các động lực văn hóa: Lòng quảng đại của các tín hữu, tinh thần hiệp sĩ và các tư tưởng về tình yêu thanh cao.

Các thế kỷ thứ XII và XIII đã đưa thời đại của Ðức Maria lên cao độ nhất. Các vương cung thánh đường được xây cất để tôn kính Ðức Mẹ, nền thần học về Ðức Mẹ cũng được nghiên cứu sâu xa hơn. Các văn gia như thánh Bernard thành Clairveaux (1090-1153), các thi phẩm như “Thánh Vịnh Ðức Mẹ” (đã trở thành kinh mân côi sau này), và các tích về phép lạ của Ðức Mẹ. Các dòng tu như Phanxicô và Ða Minh đã đặc biệt tôn kính Ðức Mẹ là “Madonna” (Ðức Trinh Nữ Maria). Ðức Trinh Nữ là máng chuyển ơn Thánh và là Mẹ nhân loại trong ý nghĩa sâu xa và cảm tình thắm thiết nhất.

Việc sùng kính Ðức Mẹ trong thời trung cổ cũng nhấn mạnh cách đặc biệt đến các thực hữu của tình thương nhân ái của Mẹ. Người ta chỉ cần so sánh Ðức Trinh Nữ thanh khiết và uy nghi trong các nghệ thuật Italo-Byzantine với nghệ thuật fresco của Giotto để thấy sự khác biệt. Một đàng là khung cảnh huy hoàng và một nhãn giới xa xa của Mẹ Thiên Chúa; đàng khác là hình ảnh thế trần của Ðức Mẹ, hình ảnh một người nữ thực sự vừa mới sinh con, hoặc một người Mẹ đau khổ đang đứng cạnh xác con vừa bị tử hình trên thập giá.

Phong trào “nhân hóa” Ðức Mẹ vào cuối thời Trung Cổ đã được diễn đạt đầy đủ hơn qua các tác phẩm nghệ thuật “Trinh Nữ với Con Trẻ” trong thời Phục Hưng. Trong các họa phẩm đó, nữ tính của Ðức Mẹ và một con trẻ đáng yêu, lý tưởng, đã nổi bật nhất. Sự diễn đạt thâm sâu nhất của tâm tình này đã biểu lộ qua các họa phẩm của Fra Angelio, thế kỷ thứ XV và Raphael, thế kỷ XVI.

Các đền thánh và linh địa nơi Ðức Mẹ làm phép lạ đã được xây cất rất nhiều ở Âu Châu, gia tăng theo lòng mến mộ hành hương của các tín hữu. Các đền thánh hành hương nổi tiếng nhất phải kể đến Einsiedeln ở Thụy Sĩ, thế kỷ thứ IX; Ðức Bà Walsingham ở Anh, thế kỷ XI; Mariazell ở Áo, thế kỷ XII; Ðức Bà Czestochowa ở Ba Lan, thể kỷ XIV; và thánh gia của Ðức Trinh Nữ ở Loreto, Ý, thế kỷ XIV.

Các thánh tích cũng đã đóng vai trò quan trọng để minh chứng “sự thật” và là nguồn mạch của các sức mạnh thiêng liêng. Chẳng hạn như tóc của Ðức Mẹ ở Piazza, thơ Ðức Mẹ gửi cho dân chúng thành Messina, áo trong của Ðức Mẹ ở Charles v.v... Các từng lớp trí thức đã phản ứng mạnh mẽ chống lại những việc đạo đức có tính cách dị đoan. Ðiều này đã đánh dấu kết thúc thời Trung Cổ.

THỜI CẢI CÁCH

Các nhà cải cách Công Giáo, như Erasmus, đã phàn nàn về những hình thức đạo đức bề ngoài và họ đã giảng về việc cải thiện đời sống từ nội tâm, cũng như bắt chước nhân đức của các Thánh. Ðối với những nhà cải cách Tin Lành, mặc dù Martin Luther (Lu-Te) vẫn viết về việc tôn kính Ðức Mẹ, nhưng thực ra họ không còn một chút sùng kính nào cả, vì họ cho rằng việc tôn kính Ðức Mẹ đã làm giảm mất việc tôn thờ Thiên Chúa trong Ðức Kitô.

Giáo hội Công Giáo đã phản ứng bằng cách ra luật định giảm đi những hình thức tôn sùng qúa đáng đối với Ðức Mẹ, nhưng không bao giờ hủy bỏ việc tôn kính trong đời sống Công Giáo. Công Ðồng Trent (1545-1564) vẫn xác định sự hợp lệ của các thánh tích cũng như các hình ảnh nghệ thuật về Ðức Mẹ và các Thánh. Đến những thế kỷ XVII và XVIII, đặc biệt trong những quốc gia Công Giáo, việc tôn sùng Ðức Mẹ lại bột phát mạnh mẽ. Các lễ kính Ðức Mẹ đã được thêm vào lịch phụng vụ: Lễ Thánh Danh của Ðức Mẹ được thêm vào năm 1683; lễ Ðức Bà Thương Xót, 1690; Lễ Ðức Mẹ Mân Côi, 1716; Lễ Ðức Mẹ Núi Carmel, 1726; Lễ Bảy Sự Thương Khó của Ðức Mẹ, 1727.

Cũng trong khoảng thời gian này, đã có thêm rất nhiều hiệp hội, dòng tu được thành lập, đặc biệt hướng về việc tôn sùng Ðức Mẹ. Nổi bật nhất là dòng Tiểu Ðệ, Tiểu Muội của thánh Louis Grignion de Montfort (1673-1716). Bản kinh nhật tụng của thánh Montfort đã gây ảnh đưởng đạo đức sâu rộng trong các tầng lớp tín hữu, nhất là đã trở thành kim chỉ nam cho phong trào Lê-gi-ô (Legion of Mary), được thành lập trong thời Ðệ Nhất Thế Chiến. Dòng Chúa Cứu Thế của thánh Alphonsus Liguori (1696-1787) cũng đặc biệt hướng về Ðức Mẹ. Lòng sùng kính Ðức Mẹ lại một lần nữa lan rộng qua lãnh vực nghệ thuật. Người ta có thể thấy điều này rất rõ qua các họa phẩm của danh tài Bartolome Estaban Murillo, qua nền âm nhạc trong thời đại của “baroque,” nhạc của Domenico Scarlatti, khúc “Magnificat” lừng danh của Johann Sebastian Back, cũng như sự hình thành “Stabat Mater” của các nhạc sư Vivaldi, Haydn và Pergolesi.

Một họa phẩm của Murillo

THỜI CẬN VÀ HIỆN ÐẠI

Nhiều người đã nghĩ rằng cuộc cách mạng Pháp (1789), các sự phát triển khoa học, cuộc cách mạng kỹ nghệ và những luồng gió mới thổi qua Âu Châu, sẽ làm thay đổi lòng sùng kính Ðức Mẹ trong lòng các giáo hữu ở thế kỷ thứ XIX. Nhưng sự thật đã không xảy ra như vậy, ngược lại, việc tôn sùng Ðức Mẹ đã gia tăng không kém thời Trung Cổ. Chỉ khác là xưa kia việc sùng kính Ðức Mẹ đã phát xuất từ các giáo dân, nhưng nay chính các vị lãnh đạo tinh thần đã khởi xướng phong trào này. Khởi điểm của thời đại mới là sự xác định tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, do ÐGH Piô IX, năm 1854. Ðể đánh dấu kỷ nguyên mới này, đúng một trăm năm sau, ÐGH Piô XII đã tuyên bố năm Thánh Mẫu 1954, và chính ngài đã công bố tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ngày 15 tháng 8, 1950.

Cũng trong khoảng thời gian đó, Ðức Mẹ đã hiện ra nhiều lần với nhân loại. Những mạc khải cho thánh Catherine Labouré ở Paris trong khoảng 1830-1836 đã làm gia tăng những việc đạo đức, các “mề đay phép lạ” (Miraculous Medals) dâng kính Ðức Mẹ Vô Nhiễm. Những lần Ðức Mẹ hiện ra với thánh Bernadette Soubirous ở Lộ Ðức (Lourdes) năm 1858, đã biến miền đất hẻo lánh trong vùng rừng núi Pyrennées thành một trong những trung tâm hành hương lớn nhất trên thế giới. Biết bao người hàng năm đã đến kính viếng và tỏ lòng tôn sùng Ðức Mẹ tại đây. Một trung tâm hành hương tương tự cũng được xây dựng ở Fatima, thuộc nước Bồ Ðào Nha (Portugal), nơi Ðức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ chăn cừu, năm 1917. Ngoài ra còn có những nơi hành hương khác như Knock ở Aí Nhĩ Lan (Ireland), Beauraing ở Bỉ, và ngay cả La Vang ở Việt Nam.

Một lần nữa các Ðức Giáo Hoàng lại công bố những ngày lễ đặc biệt để tôn kính Ðức Mẹ. Thánh Giáo Hoàng Piô X công bố lễ kính Ðức Mẹ Lộ Ðức, năm 1904. Ðến năm 1931, ÐGH Piô XI chọn ngày 11 tháng 10 là ngày kính Mẫu Tâm. ÐGH Piô XII định ngày 31 tháng 10 để kính Ðức Mẹ Vô Nhiễm, ngày 31 tháng 5 để kính Nữ Vương đồng thời công bố năm Thánh Mẫu 1954. Trong Công Ðồng Vatican II, ÐGH Phaolô VI đã công bố Ðức Maria là Mẹ Giáo Hội. Ðến năm 1987, Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lại công bố năm Thánh Mẫu lần nữa.

Tại Công Ðồng Vatican II, vấn đề đã được đặt ra là chú trọng đến việc nghiên cứu Thánh Mẫu học trong phạm vi thần học mà thôi, chứ không để ý nhiều đến những tâm tình sùng kính Ðức Mẹ. Một số nghị phụ đã mong ước Công Ðồng công bố một tài liệu riêng về Ðức Mẹ, nhưng nhiều vị khác lại không đồng ý, viện lẽ rằng việc nghiên cứu Thánh Mẫu học đã trở nên qúa khác biệt. Cuối cùng, tuyên ngôn về Ðức Mẹ đã được đặt chung trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium). Ðiều này đã được giải thích rằng đây là một nỗ lực nhằm nối kết Thánh Mẫu học với trọng tâm của thần học. Hành động của Công Ðồng Vatican II không nhằm “giảm bớt ảnh hưởng của Ðức Mẹ” như một vài nghị phụ đã nghĩ! Thật ra đó là một nỗ lực để hiểu Ðức Mẹ, không phải như một thực thể khác biệt, nhưng liên kết với toàn thể mầu nhiệm của giáo hội.

Ngày nay, hai dân tộc được để ý nhiều về các tâm tình sùng kính Ðức Mẹ là dân Mễ Tây Cơ (Mexican) với đền thánh Ðức Bà Guadalupe và dân Ba Lan (Polish) với đền Ðức Bà Czestochowa. Hầu hết các Kitô hữu ở Á Châu cũng có lòng sùng kính Ðức Mẹ cách đặc biệt. Thực ra, Ðức Trinh Nữ Maria vẫn là một biểu tượng mạnh mẽ của nguyện vọng xã hội. Ðức Bà Guadalupe và Czestochowa đều biểu dương vài trò truyền thống của Ðức Mẹ: Hiền Mẫu và đồng thời là Ðấng Bảo Vệ. Ðiều mà người ta cần ghi nhớ là một người mẹ, nếu cần, có thể trở nên dữ tợn hay liều lĩnh để bảo vệ con cái của bà. Ðức Mẹ sẽ dùng mọi phương thế cầu bầu cùng Chúa để bảo vệ các con của Mẹ.

Trong khi các quốc gia Tây Phương tự mang danh là những quốc gia “Kitô giáo,” nhưng phần đông đã đánh mất đi những tâm tình nóng sốt ban đầu đối với Ðức Mẹ, thì các nước thuộc Ðệ Tam Thế Giới và các dân tộc đang sống trong sự nghèo khổ lại sùng kính Ðức Mẹ biết bao. Biểu tượng của một Theotokos (Mẹ Thiên Chúa) thực sự đã trở nên một trong những biểu tượng nổi bật nhất trong lịch sử tôn giáo của con người.
LM Phaolô Nguyễn Văn Tùng  8/8/2011
Nguồn:   http://www.vietcatholic.net/News/Html/91916.htm

Montag, Januar 02, 2012

LỄ MẸ THIÊN CHÚA 2012: MẸ SINH RA ĐẤNG BAN BÌNH AN

Tác giả Cao Huy Hoàng
Nguồn :  http://www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=18825
Suy niệm Lời Chúa Lễ Mẹ Thiên Chúa


Có thể nói, theo cách nói của người Việt Nam, “Thiên Chúa không thể ngủ yên” khi các tạo vật đang ngậm ngùi rên xiết, đang quằn quại đau thương trong cuộc sống phù du chóng vánh vì hậu quả của tội lỗi nguyên tổ: không tuân lịnh Ngài mà nghe theo lời xúi quẩy của ma quỷ, tự gieo mình vào chỗ diệt vong. Thánh Vịnh 39 như tiếng kêu thấu tới lòng trời:
Con ngậm ngùi rên xiết, mong chờ Chúa cứu độ con. Thân xác con như làn gió thoảng. Đời sống con là kiếp phù du. Ôi con người chỉ như hơi thở, thấp thoáng trên đường tựa bóng câu. Ngàn ngày xa ngược xuôi vất vả, cũng chỉ như là cơn gió qua”
Vâng, Thiên Chúa không thể ngủ yên khi Ngài chưa hoàn thành Lời đã hứa thưở ban sơ chia lìa, tan vỡ: “Một người nữ sẽ đạp giập đầu con rắn, còn con rắn sẽ cắn gót chân nàng” (Stk 3,15). Lòng yêu thương của Ngài luôn thổn thức. Có thể theo cách nói của Diễm Tình Ca là con mắt si tình của Ngài vẫn dõi theo từng bước chân người tình phụ. Và không chỉ dõi theo, Ngài còn đồng hành với con người trên mọi bước đường qua các ngôn sứ mang tin hy vọng, lời chúc lành bình an đến cho con người.
Đoạn sách Dân số hôm nay ghi lại thổn thức đầy yêu thương của Thiên Chúa: “Chúa phán cùng Môsê rằng: "Hãy nói với Aaron và con cái nó rằng: Các ngươi hãy chúc lành cho con cái Israel; hãy nói với chúng thế này: 'Xin Chúa chúc lành cho con, và gìn giữ con. Xin Chúa tỏ nhan thánh Chúa cho con, và thương xót con. Xin Chúa ghé mặt lại cùng con, và ban bằng yên cho con” (Ds 6,22-26)
Và lòng tốt của Thiên Chúa luôn hiểu tốt cho dân ngài rằng khi đã nhận được phúc lành của Thiên Chúa, dân Ngài sẽ hiểu được lòng yêu của Ngài và sẽ đặt thêm niềm hy vọng vào Ngài sẽ thực hiện lời hứa: "Họ sẽ kêu cầu danh Ta trên con cái Israel và Ta sẽ chúc lành cho chúng". (Ds 6, 27)
Quả thật lời kêu cầu của dân Chúa đã vang lên đầy niềm tin tưởng và hy vọng:
Xin Thiên Chúa xót thương và ban phúc lành cho chúng con; xin chiếu giãi trên chúng con ánh sáng tôn nhan Chúa, để trên địa cầu người ta nhìn biết đường lối của Ngài, cho chư dân thiên hạ được biết rõ ơn Ngài cứu độ” (Tv 66, 2-3)
Ta sẽ chúc lành cho chúng”. Lời Chúc Lành ấy là Lời Bình An, là chính Ngôi Lời mà Ngài sẽ ban cho nhân loại: Chính Con Một của Ngài. Thánh Phaolô đã xác quyết:
Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà phán dạy cha ông, nhưng đến thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã phán dạy chúng ta nơi người Con”. (Dt 1, 1-2)
và Người Con Của Thiên Chúa được sinh ra bởi một Phụ Nữ:
Khi đã tới lúc thời gian viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Ngài sinh hạ bởi người phụ nữ, sinh dưới chế độ Luật, để cứu chuộc những người ở dưới chế độ Luật, hầu cho chúng ta được nhận làm dưỡng tử” (Gl 4, 4)
Người Nữ của lời hứa: Mẹ Maria, đã xuất hiện từ buổi Truyền Tin với lời Xin Vâng, và từ nơi Người Con Thiên Chúa được cưu mang và sinh hạ bởi lòng dạ của Nàng, Thiên Chúa đã thiết lập một Giao Ước mới : “Ai tin vào Con của Người sẽ được cứu độ”. (Ga 3,16)
Việc “Tin vào Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật” vừa là nền tảng cho ơn cứu rỗi của mỗi người, vừa là nền tảng cho tín điều “Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa”. Từ nền tảng ấy, năm 431, Công Đồng Êphêsô đã tuyên tín rằng: “Vì Ngôi Lời nhập thể là một chủ vị duy nhất, cho nên điều gì chúng ta có thể nói về nhân tính của Đức Kitô, thì chúng ta cũng có thể nói về thiên tính của Ngài. Con-Thiên-Chúa đã được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần, đã sinh ra bởi Mẹ Maria, đã sống giữa chúng ta và đã chịu chết vì chúng ta. Chính vì thế, theo nghĩa này, chúng ta gọi Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa, bởi Người cũng đã thực sự sinh ra Đấng-Thiên-Chúa-làm-người”.
Tin mừng Lễ Mẹ Thiên Chúa thuật lại việc Mẹ Maria đã sinh ra Con Thiên Chúa, và các mục đồng đến thăm. Trong khi thăm gia đình của Chúa, họ chuyện trò với Mẹ Maria và kể lại cho Mẹ những điều họ đã được nghe nói về hài nhi: "Các ngươi đừng sợ, đây ta mang đến cho các ngươi một tin mừng đặc biệt, đó cũng là tin mừng cho cả toàn dân: Hôm nay Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế, đã giáng sinh cho các ngươi trong thành của Đavít. Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Người: Các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ".
Có thể họ đã từ ngạc nhiên này, đến ngạc nhiên khác khi nhìn thấy một Hài Nhi đẹp đẽ sáng láng mới sinh nằm trên nôi rơm hèn mọn, khi nhìn thấy Mẹ Người là một thiếu nữ hiền hậu đoan trang, khi thấy cha của Người là một chàng trai khôi ngô nhưng chân thành đạo đức, nhưng có thể họ ngạc nhiên nhất khi biết rằng đây là gia đình của Đấng Cứu Thế. Đấng Cứu Thế đến trong và qua một gia đình, và là một gia đình nghèo khổ như vậy sao? Họ đã vượt qua sự ngạc nhiên, vượt qua bất ngờ của trí hiểu loài người, vượt qua thử thách do suy luận, và họ đã tin tưởng tuyệt đối rằng mình đã gặp Đấng Cứu Thế. Niềm tin tưởng tuyệt đối ấy được thể hiện qua lời kể của thánh Luca: Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ”.
Vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa”. Họ là những mục đồng nghèo hèn dân dã đang làm nhiệm vụ đối với đàn chiên của mình, họ ngủ bên đàn chiên để bảo vệ đàn chiên, nhưng họ được diễm phúc là những người đầu tiên chầu kính Thiên Chúa làm người, bằng xương bằng thịt thật của một Hài Nhi mới sinh. Lời các thiên sứ rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người lòng ngay” hẳn là dành cho tất cả những ai đơn sơ ngay lành giống như họ: Đơn sơ nhận sứ điệp Tin Mừng. Ngay lành đến thăm viếng. Và chắc chắn họ nhận được ơn an bình.
Tin Mừng này: Đấng Cứu Thế và Ơn Bình An, Mẹ Maria đã nhận từ buổi Truyền tin. Đấng Cứu Thế mà các mục đồng hôm nay mới biết đến, thì Mẹ đã cưu mang trong lòng hơn chín tháng. Mẹ đã nhận biết Con Thiên Chúa làm người trong dạ Mẹ. Mẹ đã chấp nhận theo Thánh Ý Thiên Chúa để làm một việc mà trước và sau Mẹ trong loài người này không ai làm. Duy nhất chỉ có Mẹ. Đêm hạ sinh Con Thiên Chúa, lại thêm những khác thường của vũ trụ: tinh tú xôn xao, ánh sáng diệu huyền, ngôi sao sáng, bầu trời vang tiếng hát tung hô… và những gặp gỡ đầu tiên của những mục đồng đã minh chứng cho Mẹ điều Mẹ đã “tin”: Con của lòng Mẹ sinh ra là Thiên Chúa, Mẹ sinh ra Con Thiên Chúa.
Nếu là một phụ nữ khác trong thiên hạ, hẳn người ấy sẽ tỏ lộ niềm vui mừng biết bao, hãnh diện biết bao, và còn có thể rất tự hào về danh phận Mẹ Đấng Cứu Thế. Nhưng với Đức Mẹ, thánh Luca cảm nhận với ơn mạc khải để viết rằng: Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy niệm trong lòng”. Điều mẹ suy niệm trong lòng, nào ai có thấu được. Nhưng qua cung cách của Mẹ Maria, chúng ta chỉ có thể hiểu là Mẹ rất khiêm tốn đón nhận ân sủng, và chu toàn nhiệm vụ của ân sủng đã bạn: sinh ra cho đời một Đấng ban bình an. 
Hôm nay lễ Mẹ Thiên Chúa, ngày đầu năm mới, và cũng là ngày cầu cho Hòa Bình thế giới, thật là một ngày đặc biệt cho hai ý nghĩa: Mẹ Thiên Chúa đem ơn Bình An của trời cao xuống cho nhân loại.
Ơn bình an các mục đồng nhận được khởi nguồn từ việc nghe lời Thiên sứ báo tin, đến việc thân hành đến gặp Chúa Giêsu, và qua Chúa Giêsu, ca tụng tôn vinh Thiên Chúa.
Hòa bình thế giới cũng phải khởi đi từ việc lắng nghe Lời Thiên Chúa, gặp được Chúa Giêsu và tin tưởng vào Thiên Chúa. Không thể có hòa bình, nếu không có niềm tin vào Thiên Chúa. Cũng vậy, mỗi gia đình được bình an, phải là mỗi gia đình tha thiết sống Lời Chúa, năng gặp gỡ Chúa qua Lời Chúa và Bí Tích Thánh Thể, và tác động của Chúa Giêsu Thánh Thể trong mỗi con người là trở thành những chứng nhân ca tụng tôn vinh tình yêu Thiên Chúa.
Lời Chúa hôm nay, gợi cho mọi người, đặc biệt là những người làm Vợ, làm Mẹ, phải là người cưu mang sự bình an, người kiến tạo sự bình an thánh thiện trong gia đình, để mỗi ngày sống phải là một ngày Tết của gia đình sum họp trong yêu thương. Để được ý nghĩa ấy, chúng ta noi gương Mẹ Maria mà luôn vâng thánh ý Chúa trong cuộc đời, sắn sàng đón nhận cưu mang Chúa, cưu mang sự bình an thánh thiện tốt lành của Thiên Chúa trong lòng chúng ta. Chúng ta noi gương Mẹ Maria, người Mẹ Thánh Thể đầu tiên của nhân loại, Mẹ là “hòm bia Thiên Chúa”, là “Nhà Tạm của Thánh Thể Chúa Giêsu lúc Chúa hãy còn là phôi thai”, Mẹ là lời ru ngọt ngào, là giấc ngủ thánh, là hơi thở dịu êm, là nguồn bình an cho hài nhi Giêsu…Mẹ là người đầy ân sủng của Thiên Chúa nhưng cũng là người chịu đựng đau thương, chịu đựng cả lịch sử cứu độ của Thiên Chúa, qua Đức Giêsu con Mẹ …
Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng xót thương, chúng con tin tưởng Mẹ Maria là Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Đấng Cứu Thế, Mẹ Thiên Chúa và cũng là Mẹ của chúng con. Trong lòng Mẹ luôn đầy ắp thánh ý Thiên Chúa và sự tốt lành, bình an của Thiên Chúa. Xin cho chúng con cũng biết cưu mang Thánh Thể Chúa Giêsu trong lòng, để đời chúng con được bình an và đem lại bình an cho nhiều người. Amen.

29-12-2011
Ngày 1 tháng 1
LỄ ĐỨC MA-RI-A - MẸ THIÊN CHÚA

Tin Mừng: Lc 2, 16-21.
“Các người chăn chiên gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se và Hài Nhi. Được đủ tám ngày, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su”.
Anh chị em thân mến,
Hôm nay ngày đầu năm mới dương lịch, Giáo Hội long trọng mừng kính Đức Mẹ Maria là mẹ Thiên Chúa, và là ngày cầu xin cho hòa bình thế giới.

Công đồng Ê-phê-sô (năm 431) đã long trọng tuyên bố tín điều Đức Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, để tôn vinh Thiên Chúa là Đấng đã chọn Đức Mẹ Maria làm mẹ của Đấng cứu thế là Chúa Giê-su, và đồng thời đề cao vai trò của Mẹ trong trong việc đồng công cứu chuộc loài người với Chúa Giê-su.

1. Chúa Giê-su- Thiên Chúa làm người.
Chúa Giê-su là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, sinh bởi cung lòng trinh nữ Ma-ri-a, do đó Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là người như chúng ta, chính Ngài là Đấng Messia mà muôn dân trông đợi, là Đấng mà các tiên tri đã loan báo là Đấng sẽ đến để cứu nhân loại khỏi bóng đêm tội lỗi. Chính Ngài trong bản tính Thiên Chúa thì là Thiên Chúa, đồng bản tính với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, trong bản tính nhân loại Ngài là con của Đức Trinh nữ Ma-ri-a mà công đồng Nicea đã long trọng tuyên bố xác tín, và mỗi ngày chúa nhật hay lễ trọng, chúng ta đều tuyên xưng trong thánh lễ.

Chúa Giê-su là Đấng mà thánh Gioan Tiền Hô đã nói: “Ngài đến sau tôi nhưng có trước tôi” (Ga 1, 30b), cũng có nghĩa là với bản tính loài người Chúa Giê-su sinh sau thánh Gioan Tiền Hô, nhưng với bản tính Thiên Chúa thì Ngài đã có trước thánh Gioan Tiền Hô. Và như thánh Gioan tông đồ đã xác quyết: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa , và Ngôi Lời là Thiên Chúa”.(Ga 1, 1) ngài đã xác tín Chúa Giê-su là Ngôi Lời tức là Thiên Chúa.

Như vậy, với các chứng cớ xác thực trên thì Chúa Giê-su là Thiên Chúa thật và là người thật, ngài thật sự là con của Đức Trinh nữ Ma-ri-a, do đó Đức Mẹ Ma-ri-a là mẹ của Chúa Giê-su và cũng là Mẹ Thiên Chúa.

2. Đức Mẹ Maria – Mẹ Thiên Chúa
Không ai thấy được Thiên Chúa bao giờ, nhưng việc giáng sinh của Chúa Giê-su là một hồng phúc cho nhân loại, vì qua Ngài mà nhân loại thấy được Thiên Chúa không thể thấy, qua Ngài chúng ta thấy được tình yêu trọn vẹn mà Thiên Chúa đã giành cho nhân loại chúng ta.

Đức Mẹ Maria là mẹ thật của Chúa Giê-su, cho nên Mẹ cũng là Mẹ Thiên Chúa, như lời tiên tri I-sai-a đã loan báo: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. (Is 7, 14) Đấng Em-ma-nu-en ấy chính là Chúa Giê-su, được Đức Ma-ri-a sinh hạ trong hang lừa máng cỏ tại Bê-lem. Chỉ có làm Mẹ Thiên Chúa, Đức Mẹ Maria mới ghi nhớ trong lòng những mầu nhiệm mà Thiên Chúa đã thực trên con người của Mẹ, và nhất là nơi những lời nói và việc làm của Chúa Giê-su như lời thánh Lu-ca đã viết: “Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”. (Lc 2, 19)

3. Đức Mẹ Maria – Mẹ của chúng ta
Thánh Gioan tông đồ, người đã tận mắt chứng kiến cái chết của Chúa Giê-su đã tường thuật lại: “Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con cùa Bà”, rồi Người nói với môn đệ (thánh Gioan tông đồ): “Đây là mẹ của anh”. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình. (Ga 19, 26-27)

Mỗi người trong chúng ta ai cũng có một người mẹ sinh ra mình, nhưng chúng ta lại càng diễm phúc hơn khi có một người mẹ trên trời hằng yêu thương chăm sóc chúng ta, đó là Đức Mẹ Maria. Mẹ không những là mẹ mà còn là Đấng cầu bàu cho chúng ta rất có thần thế trước mặt Thiên Chúa. Do đó, chúng ta hãy luôn tin tưởng và phó thác cuộc sống của mình cho Mẹ, bởi vì ngay khi chúng ta còn là tội nhân thì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, huống hồ là Đức Mẹ Maria, với tấm lòng người mẹ, nhất định Mẹ sẽ không bao giờ để con cái mình phải bơ vơ đau khổ ở đời này.

Anh chị em thân mến,
Mừng kính lễ Đức Mẹ Maria – Mẹ Thiên Chúa, là chúng ta trân trọng công việc đồng công cứu chuộc loài người nơi Mẹ, là chúng ta tôn vinh Mẹ là nữ tỳ khiêm hạ được Thiên Chúa tôn lên làm Mẹ của Ngài, là kho tàng mọi ân sủng của Thiên Chúa.

Mừng kính lễ Mẹ Thiên Chúa, chúng ta phải luôn học hỏi các gương lành của Mẹ, nhất là nhân đức Khiêm tốn và vâng phục, chính hai nhân đức này mà Thiên Chúa đã nhắc Mẹ lên tận trời cao, trên các thiên thần, và ưu ái đặt Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa.

“Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi này và trong giờ lâm tử. A-men.”Xin Thiên Chúa chúc lành cho chúng ta.
nguồn:  Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.12/30/2011   http://www.vietcatholic.net/News/Html/95015.htm