Trang chủ

Donnerstag, Dezember 22, 2011

“Maria Mẹ của Giáo Hội” hay học thuyết Maria của Đức Phaolô VI
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI

Rôma, Chúa Nhật ngày 8 tháng 11, 2009 (Le Monde vu de Rome) - Đức Thánh Cha Bénédict XVI đã nhắc đến lòng sùng kính sâu đậm của Đức Phaolô VI đối với Đức Trinh Nữ Maria và học thuyết Maria của Đức Giáo Hoàng Montini và của công đồng chú trọng đến Maria, “Mẹ của Giáo Hội.”

Đức Thánh Cha Benedict XVI hôm nay đã viếng thăm Brescia, tại Miền Bắc Ý, nơi ngài được Đức Giám Mục Luciano Monari và các giới chức chính quyền và tôn giáo đón tiếp.

Đây là một chuyến viếng thăm theo chân Đức Phaolô VI, Giovanni Battista Montini (1897-1979), và thánh Archange Tadini (1846-1912), được Đức Thánh Cha Bénédict XVI phong thánh vào tháng Tư vừa qua. Chuyến thăm viếng đánh dấu năm kỷ niệm lần thứ 30 ngày Đức Phaolô VI qua đời, trong khuôn khổ của Năm Thánh Linh Mục.

Trước hết Đức Thánh Cha đã muốn nhấn mạnh mối liên hệ giữa tình yêu Đức Mẹ và và tình yêu đời linh mục của người trẻ tuổi Montini: “Vào giờ Kinh Truyền Tin này, tôi muốn nhắc lại sự tôn sùng sâu đậm người Đầy Tớ của Thiên Chúa Giovanni Battista Montini đã nuôi dưỡng cho Đức Mẹ Maria. Ngài đã dâng Thánh Lễ đầu tay tại Thánh Đường Đức Mẹ Ban Ơn, trung tâm Đức Mẹ tại thành phố này. Bằng cách này, ngài đã hiến dâng đời linh mục của mình cho tình mẫu tử chở che của Mẹ Chúa Giêsu, và mối liên kết này đã sống động trong suốt cuộc đời ngài.”

Rồi thị kiến về Mẹ Maria này “khiến cho mối tương quan giữa Đức Nữ Đồng Trinh Maria và mầu nhiệm của Giáo Hội ngày càng trở nên sâu rộng hơn”: chính dựa trên tư tưởng này, Đức Thánh Cha Bénédict XVI đã cho bài diễn văn bế mạc thời kỳ thứ ba của Công Đồng Vaticnô II, được Đức Phaolô VI đọc ngày 21 tháng 11, 1964, là “đáng ghi nhớ.”

Đức Thánh Cha đã xác định rõ ràng mối liên kết giữa học thuyết này và hiến chế tín lý về Giáo Hội: “Hiến chế về Giáo Hội Lumen Gentium, theo lời của Đức Phaolô VI “có tột đỉnh và triều thiên là cả một chương được cống hiến cho Mẹ Maria.”

Đức Thánh Cha Benedict XVI tiếp: “Thực vậy, Đức Phaolô VI thấy ở đây sự tổng hợp của học thuyết Maria sâu rộng nhất chưa từng được một công đồng chung nào phát triển, nhằm thể hiện bộ mặt của Giáo Hội thánh, mà Đức Maria đã liên kết mật thiết với.”

Chính đây là khuôn khổ của lời tuyên bố long trọng rằng Maria là “Mẹ Giáo Hội.” Nhưng Đức Thánh Cha Benedict XVI nhấn mạnh rằng Đức Phaolô VI không quên tầm vóc phổ quát của tuyên ngôn này: “sự tôn sùng Mẹ Maria (...) là một phương tiện cần thiết để dẫn đưa các linh hồn về với Chúa Kitô và để kết hiệp họ với Chúa Cha, trong tình yêu của Chúa Thánh Thần.”

Đức Thánh Cha Benedictt XVI đã kết luận bằng kinh nguyện này: “Lạy Mẹ Đồng Trinh Maria, Mẹ Giáo Hôi, chúng con xin dâng lên Mẹ Giáo Hội Brescia, và tất cả dân chúng trong miền này. Xin Mẹ nhớ đến các con cái của Mẹ; xin Mẹ hãy trình lên Thiên Chúa những lời cầu xin của họ; xin gìn giữ cho đức tin của họ vững mạnh; xin tăng cường niềm hy vọng của họ; và xin gia tăng lòng bác ái của họ. Ôi khoan thay, nhân thay, dịu thay! Thánh Maria trọn đời đồng trinh.”
Nguồn từ: Bùi Hữu Thư11/9/2009   http://www.vietcatholic.net/News/Html/73067.htm




Mittwoch, Dezember 21, 2011

O Rex Gentium.  O König.  Lạy Đức Vua.

"Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,
47         thần trí tôi hớn hở vui mừng
            vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
48         Phận nữ tỳ hèn mọn,
            Người đoái thương nhìn tới;
            từ nay, hết mọi đời
            sẽ khen tôi diễm phúc.
49         Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
            biết bao điều cao cả,
            danh Người thật chí thánh chí tôn !
50         Đời nọ tới đời kia,
            Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.
51         Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
            dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
52         Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
            Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
53         Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
            người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
54         Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,
55         như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
            vì Người nhớ lại lòng thương xót
            dành cho tổ phụ Áp-ra-ham
            và cho con cháu đến muôn đời."
Lk 1,46-55
Thiên Chúa vẫn thực hiện những điều cao cả cho những ai tin. Xin Mẹ Maria dạy chúng con vững tin như Mẹ
Đức Thánh Cha: Chúa đòi hỏi lời ''Xin vâng'' để thực hiện kế hoạch của Chúa
Toàn văn bài nói của ĐTC Biển Đức XVI tại giờ kinh Truyền Tin ngày 18-12-2011.

ROMA - Chúng tôi đăng toàn văn bài nói của ĐTC Biển Đức XVI, trưa chủ nhật 18-12-2011, tại giờ kinh Truyền Tin, từ cửa sổ phòng của ngài nhìn ra Quảng trường Thánh Phêrô.

Lời của ĐTC trước kinh Truyền Tin:

Anh chị em thân mến,

Trong chủ nhật thứ tư và cũng là chủ nhật cuối cùng của Mùa Vọng năm nay, phụng
vụ trình bày trình thuật thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ Maria. Trong khi chiêm ngắm tượng ảnh thật đẹp của Đức Mẹ, khi Mẹ tiếp nhận sứ điệp của Chúa và đưa ra câu trả lời của mình, chúng ta được soi chiếu nội tâm bởi ánh sáng của sự thật, luôn luôn mới, tỏa ra từ mầu nhiệm này. Đặc biệt, tôi muốn dừng lại ngắn gọn về tầm quan trọng của sự vẹn sạch của Đức Mẹ, về sự việc Ngài cưu mang Chúa Giêsu mà vẫn còn đồng trinh.

Trên bức tranh sự kiện ở Nadarét, có lời sứ ngôn của Isaia: "Này đây người thiếu
nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en" (Is 7:14). Lời hứa này được hoàn thành một cách quá dồi dào trong sự Nhập Thể của Con Thiên Chúa.

Thật vậy, không chỉ Đức Trinh Nữ Maria thụ thai, nhưng bởi tác động của Chúa
Thánh Thần, nghĩa là bởi Chúa. Con người bắt đầu sống trong dạ Mẹ lấy xác thịt của Đức Mẹ, nhưng sự hiện hữu của Người Con này hoàn toàn xuất phát từ Thiên Chúa. Ngài là một con người trọn vẹn, được làm bằng đất sét - để sử dụng biểu tượng Kinh Thánh - nhưng Ngài đến từ trên cao, từ trên trời. Do đó, sự việc Đức Mẹ mang thai mà vẫn còn đồng trinh là cần thiết để hiểu Chúa Giêsu và hiểu đức tin của chúng ta, bởi vì điều này chứng minh rằng sáng kiến này đến từ Thiên Chúa, nhất là mặc khải ai là Đấng tạo sinh. Như Tin Mừng nói: "Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa" (Lc 1:35). Trong ý nghĩa này, việc đồng trinh của Đức Mẹ và thiên tính của Chúa Giêsu bảo đảm chắc chắn cho nhau.

Đó là lý do tại sao câu hỏi duy nhất mà Đức Maria, "rất bối rối", nói với thiên thần là
rất quan trọng: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” (Lc
1,34).

Trong sự đơn sơ của mình, Đức Maria đầy sự khôn ngoan: Mẹ không nghi ngờ
quyền năng của Chúa, nhưng Mẹ muốn hiểu rõ hơn ý Chúa, để Mẹ nên đồng dạng hoàn toàn với ý Chúa. Mẹ Maria bị vượt qua vô song bởi mầu nhiệm, nhưng Mẹ hoàn toàn chiếm vị thế đã được chỉ định cho Mẹ, ở trung tâm của mầu nhiệm. Trái tim và tâm trí của Mẹ là hoàn toàn khiêm hạ, và chính do sự khiêm hạ phi thường của Đức Mẹ, Chúa đòi hỏi lời "Xin vâng" của thiếu nữ này để thực hiện kế hoạch của Chúa.

Chúa tôn trọng nhân phẩm và tự do của Đức Mẹ. Lời “Xin vâng” của Đức Mẹ Maria
cam kết việc làm mẹ, mà vẫn còn đồng trinh của Mẹ, Mẹ muốn rằng tất cả trong Mẹ là vì vinh quang của Thiên Chúa, và người con trai do Mẹ sinh ra có thể hoàn toàn là quà tặng của ân sủng.

Các bạn thân mến, việc Đức Mẹ đồng trinh là hoàn toàn độc nhất: nhưng ý nghĩa tâm
linh của nó liên quan đến mỗi tín hữu. Ý nghĩa của nó, trong bản chất, là liên quan đến đức tin: quả vậy, ai đặt mình sâu sắc vào tình yêu Chúa, sẽ đón nhận trong mình Chúa Giêsu, sự sống thần linh của Ngài, qua tác động của Chúa Thánh Thần. Đó chính là mầu nhiệm Giáng Sinh! Tôi chúc tất các các bạn sống điều này với một niềm vui sâu
đậm.
Nguồn: http://www.kinhthanhvn.org/viewItem.jhtml?itemId=5038

Dienstag, Dezember 20, 2011

O Oriens. Mặt Trời Công Chính

39 Hồi ấy, bà Ma-ri-a vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. 40 Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét. 41 Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, 42 liền kêu lớn tiếng và nói rằng : "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. 43 Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ? 44 Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. 45 Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em."  Lk 1,39-45

Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ? Xin cám ơn Chúa, vì mỗi ngày Chúa vẫn đến với con nhờ Mẹ Maria và qua tha nhân trong những lần con được tiếp xúc với họ.
Chung Quanh Những Tín Điều Và Tín Lý Về Ðức Maria

Những người “không thích” giáo hội Công Giáo thường hay viện cớ này hay lẽ khác để làm hậu thuẫn cho những chỉ trích của họ. Có người “phê bình” giáo hội về đường hướng chính trị, người khác “chỉ trích” giáo hội về hệ thống tổ chức, người khác nữa có thể “kết án” giáo hội về một hay nhiều giáo huấn mà xét ra “đụng chạm” đến lối sống của họ. Thí dụ như người đã từng li dị, tái hôn nhiều lần thì không thể nào “ưa” giáo hội về các giáo huấn luân lý. Những người này, dù sao giáo hội vẫn tương đối có thể nghiêm chỉnh “đối thoại” với họ.

Nhưng còn một nhóm người khác, những người tự xưng là Kitô hữu (Christians) mà người Công Giáo gọi họ là Tin Lành (Protestants), nhưng hình như họ chỉ có một mục đích chính là triệt hạ giáo hội Công Giáo. Họ dùng đủ mọi cách, nhất là các phương tiện truyền thông, để làm giảm uy tín của giáo hội. Sự tấn công của họ nhằm vào GHCG có tính cách trường kỳ, hết thời này đến thời khác, hết thế hệ này qua thế hệ khác. Họ dùng Kinh Thánh, dùng Truyền Thống, dùng những dữ kiện lịch sử - thường là đã bị bóp méo hoặc không thể kiểm chứng - để tấn công giáo hội. Ðối với họ, giáo hội phải “đối thoại” trong mức độ và phương thế phù hợp trước những tấn công đó. Những người này thuộc nhiều giáo phái khác nhau, nhưng đa số thuộc về nhóm mà người ta có thể gọi thành một tên chung là Fundamentalists tạm dịch là “Tin Lành cực đoan” hay “Tin Lành quá khích.”

Một trong những giáo huấn của GHCG thường xuyên bị các nhóm Tin Lành qúa khích (TLQK) dùng để tấn công giáo hội là các tín điều và tín lý về Ðức Mẹ. Chúng ta thử xét qua những tín điều và tín lý đó để xem họ đã dùng phương thế nào để tấn công giáo hội đồng thời duyệt qua những giáo huấn chân chính của giáo hội về các vấn đề này.

TÍN ÐIỀU VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Người TLQK luận rằng Ðức Mẹ chỉ là loài thụ tạo, như tất cả những thụ tạo khác, mà tất cả loài người đều vướng tội (all have sinned. Rome 3:23); hơn nữa chính Ðức Mẹ đã xưng “linh hồn tôi vui sướng trong Thiên Chúa Ðấng Cứu Ðộ tôi” (Lk 1:47); chỉ có những kẻ có tội mới cần Ðấng Cứu Rỗi; như vậy Ðức Mẹ phải là kẻ có tội và không thể “vô nhiễm nguyên tội được.”

Giải thích cho phần thứ hai trước, giáo hội dạy rằng chính Ðức Mẹ cũng cần có Ðấng Cứu Ðộ. Cũng như tất cả con cháu của Adam và Eve, trong bản tính, Mẹ cũng phải chịu sự cần thiết của việc nhiễm nguyên tội. Nhưng bằng một sự can thiệp đặc biệt của Chúa, xảy ra ngay tại giây phút Mẹ được thành thai, Mẹ đã được bảo toàn khỏi sự vương nhiễm của nguyên tội và những hậu qủa của tội đó. Như vậy chính Mẹ đã được cứu chuộc bởi hồng ân của Ðức Kitô, nhưng bằng một cách đặc biệt, bằng sự hưởng trước (anticipation). Vì vậy tín điều vô nhiễm nguyên tội đã không đi ngược lại với phúc âm của thánh Luca, (Lk 1:47.)

Về thư thánh Phaolô gửi các tín hữu thành Roma, “mọi người đều phạm tội” (Romans 3:23); người TLQK cho rằng điều này có nghĩa nhiều hơn việc vương tội nguyên tổ, nhưng còn là tội mà tất cả mọi người thực sự mắc phải. Họ kết luận rằng Ðức Mẹ cũng nhất định đã phạm tội trong cuộc đời của Mẹ và như vậy đi ngược lại với việc vô nhiễm nguyên tội. Không hẳn như vậy, một đứa trẻ trước tuổi biết suy nghĩ chín chắn, theo định nghĩa, không thể phạm tội, vì để thành tội, người ta phải có khả năng suy luận, khả năng tự quyết định phạm tội.

Thư của thánh Phaolô có thể mang một trong hai ý nghĩa: Thứ nhất, không nói đến tuyệt đối tất cả mọi người, nhưng chỉ là đại đa số nhân loại; ngoại trừ những trẻ con và các trường hợp đặc biệt như Ðức Mẹ. Nếu không, thứ hai, đoạn thơ chỉ mang ý nghĩa tất cả mọi người đều phạm tội nguyên tổ mà thôi, kể cả trẻ thơ và Ðức Mẹ. Nhưng Mẹ đã được ơn đặc biệt không vương tội ấy như đã nói ở trên.

Những người TLQK còn trưng câu kế, theo lời của Ðức Mẹ: “Người đã đoái thương đến nữ tỳ hèn mọn - lowly servant - của Ngài.” (Lk 1:48); nếu Mẹ tự nhận là “hèn mọn” thì phải chăng chính Mẹ cũng đã phạm tội? Không phải, vì tội không phải chỉ là động lực duy nhất cho sự “hèn mọn”; đối với Chúa, mọi loài thụ tạo, dù có hoàn hảo đến đâu chăng nữa, đều hèn mọn.

Tín điều Ðức Mẹ vô nhiễm nguyên tội đã được ÐGH Piô IX công bố năm 1854, không phải là một “phát minh” của giáo hội, cũng không phải vì người ta đã nghi ngờ về tín lý này, nhưng là để mọi người biết tôn sùng Ðức Mẹ nhiều hơn.

TÍN ÐIỀU HỒN XÁC LÊN TRỜI

Người Tin Lành qúa khích nói rằng chẳng có đoạn Kinh Thánh nào nói về Ðức Mẹ hồn xác lên trời cả. Họ còn nói thêm, người công giáo cho rằng Ðức Mẹ đã không chết! Nhưng họ đã lầm, vì giáo huấn Công Giáo đã dạy, hay ít nhất ngầm dạy, rằng Ðức Mẹ đã chết. Năm 1950, ÐGH Piô XII công bố Ðức Maria, “sau khi đã hoàn tất cuộc đời của Mẹ trên cõi thế đã được đưa cả xác và hồn vào vinh quang nước Trời.” Nói cách khác, xác của Mẹ đã không bị hư đi và không còn ở trong mồ nữa.

Cũng cần phân biệt giữa sự “thăng thiên” của Chúa Kitô và sự “hồn xác lên trời” của Ðức Mẹ. Ðức Kitô đã tự mình (ascended) lên trời, còn Ðức Mẹ được đưa (assumed) lên trời bằng quyền năng của Chúa.

Thực sự Kinh Thánh đã không trực tiếp nói đến việc Ðức Mẹ hồn xác lên trời, nhưng việc xác người đã qua đời được đưa về trời trước ngày Chúa giáng lâm lần thứ hai đã không bị loại trừ trong thư thứ nhất của thánh Phaolô gửi các tín hữu thành Côrintô (I Corinthians 15:23) “Nhưng ai theo thứ tự nấy, trước tiên là Ðức Kitô, rồi đến những kẻ thuộc về Ngài trong ngày giáng lâm.” Phúc âm của thánh Matthew còn nói rõ hơn (27:52-53): “Mồ mả mở tung ra và xác của nhiều thánh đã yên nghỉ được sống lại. Họ ra khỏi mồ, sau khi Ngài sống lại, mà vào thành thánh và đã hiện ra cho nhiều người.”

Một nhận xét thông thường khác, các tín hữu thuở ban đầu của giáo hội luôn luôn gìn giữ những di thể của các thánh, nhất là những vị tử đạo hoặc nổi tiếng, kể từ thánh Phêrô trở xuống, nhưng không ai nhắc đến chuyện có người hay có nơi còn giữ được xương của Ðức Mẹ! Vì Ðức Mẹ đã hồn xác về trời.

ÐGH Piô XII dạy rằng việc Ðức Mẹ hồn xác lên trời thực sự là hậu qủa của sự vô nhiễm nguyên tội. “Hai ơn đặc biệt này ban cho Mẹ Thiên Chúa đứng riêng trong ánh sáng huy hoàng nhất tại lúc khởi đầu và khi kết thúc cuộc lữ hành của Mẹ.”

Nhưng người TLQK vẫn muốn vặn thêm, họ hỏi rằng nếu Ðức Maria vô nhiễm nguyên tội, và nếu cái chết là hậu qủa của sự tội thì tại sao Bà phải chết? Thưa rằng mặc dù Ðức Mẹ hoàn toàn vô tội và chẳng bao giờ phạm điều lầm lỗi nào, nhưng Mẹ vẫn chấp nhận cái chết để được hợp nhất với Ðức Kitô. Nên nhớ rằng chính Chúa Kitô cũng có thể không phải chết mà không ảnh huởng gì đến chương trình cứu chuộc của Ngài, chỉ cần Ngài “muốn” là mọi việc đều hoàn tất. Nhưng Ngài đã CHỌN cái chết. Ðức Maria đã tự hợp nhất với công việc của Chúa Kitô, cả cuộc đời của Mẹ là một sự hợp tác với chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa, qua lời “Xin hãy thành sự cho tôi theo lời Ngài” (Lk 1:38). Thực ra sự hợp tác này đã bắt đầu từ khởi thủy của cuộc đời Mẹ.

Ðức Mẹ chấp nhận cái chết như Chúa Giêsu đã chấp nhận cái chết, Mẹ cũng đau khổ (Lk 2:35) để hợp nhất với sự đau khổ của Chúa Giêsu. Trong sự hợp nhất đó, Mẹ cũng chia sẻ với vinh quang của Ngài, chia sẻ với sự phục sinh của Ngài qua việc được cất lên trời cả hồn lẫn xác, cùng một cách như những người lành được lên trời trong ngày sau hết.

TÍN ÐIỀU MẸ THIÊN CHÚA

Người Tin Lành qúa khích đặt câu hỏi rằng họ thường nghe người Công Giáo gọi Ðức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa, làm sao Thiên Chúa lại có mẹ được? Như vậy có nghĩa Ðức Maria già hơn Thiên Chúa sao? Khi nghe câu hỏi như vậy, người Công Giáo có thể phì cười, nhưng xem ra họ rất nghiêm chỉnh trong câu hỏi. Tuy nhiên, chưa hẳn họ sẽ đương nhiên chấp nhận Ðức Maria là Mẹ Thiên Chúa mặc dù người Công Giáo đã cho họ câu trả lời thỏa đáng.

Mục tiêu chính trong sự đối kháng của họ là câu “Mẹ Thiên Chúa” (hay Ðấng cưu mang Thiên Chúa, Theotokos), họ cho rằng nói như thế là đưa Ðức Maria lên qúa cao! Vì vậy họ rất dễ lọt vào tà thuyết của Nestorius. Ông này cho rằng sự kết hợp giữa hai bản tính của Ðức Kitô chỉ là sự kết hợp luân lý của hai ngôi vị khác biệt, Ngôi Hai Thiên Chúa và con người Giêsu. Người TLQK cho rằng Ðức Mẹ chỉ là mẹ của Ðức Kitô trong nhân tính của Ngài mà thôi chứ không phải là mẹ của cả thiên tính của Ngài.

Ðiều này không đúng, thử hỏi có phải các bà mẹ của những người này chỉ là mẹ của nhân tính của họ mà thôi chăng? Thưa không, vì các bà đã là mẹ của họ cách toàn diện, những con người đã được thụ thai và sinh ra đời. Con người nào đã được sinh ra bởi Ðức Maria? Đó là một Ngôi Vị thánh chứ không phải là một con người tầm thường ở dương thế - nhưng Ngôi Vị thánh đó nhận lấy bản tính loài người.- Ðấng sinh bởi Ðức Maria “sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lk 1:35). Họ không biết rằng sự kết hợp giữa hai bản tính của Ðức Kitô là sự kết hợp bản thể (hypostasis). Thực ra, đa số trong họ đã không biết hết ý nghĩa của chữ này.

MARIA ÐẤNG TRUNG GIAN

Người Tin Lành qúa khích cho rằng người Công Giáo đã xếp Ðức Maria ngang hàng với Ðức Kitô khi gọi Ngài là Ðấng Trung Gian (Mediatrix) của mọi ơn thánh, vì chỉ có Ðức Kitô là Ðấng trung gian duy nhất giữa con người và Thiên Chúa.

Khi giải thích về câu “Tôi muốn nói rằng Thiên Chúa, trong Ðức Kitô, đã hoà giải thế gian với chính mình, không còn buộc tội của họ, và trao cho chúng ta sứ mạng loan báo ơn giảng hòa.” (II Côrintô 5:19), thánh Thomas Aquinas (Tôma Aquinô) đã viết rằng: “Chỉ một mình Ðức Kitô là Ðấng trung gian hoàn hảo nhất giữa Thiên Chúa và con người, qua cái chết của Ngài, Ngài đã giải hòa nhân loại với Thiên Chúa... Tuy nhiên, không có gì ngăn trở trong việc một số người khác cũng được gọi là đấng trung gian, trong một vài trường hợp, giữa Thiên Chúa và con người, một khi họ hợp tác trong việc kết hiệp con người và Thiên Chúa trong cách chỉnh đốn hay mục vụ.” (1) Chính chúng ta cũng có thể là người “trung gian” khi chúng ta cầu nguyện cùng Chúa cho người khác, điều mà chính những người TLQK cũng thường làm. Ðiều này không đi ngược với việc Ðức Kitô là Ðấng Trung Gian hoàn hảo nhất, vì tất cả những nỗ lực của chúng ta đều hoàn toàn tùy thuộc vào Ngài.

Ðức Maria chia sẻ sự trung gian của Chúa Kitô. Vị thế của Mẹ trong việc trung gian có thể giải thích trong hai ý nghĩa: Thứ nhất, Mẹ đã trao cho thế gian Ðấng Cứu Thế, nguồn mạch của mọi ơn sủng, trong ý nghĩa này Mẹ đã là máng chuyển mọi ơn thiêng. Thứ hai, Ðức Maria là Ðấng Trung Gian của mọi ơn sủng qua lời bầu cử của Mẹ trên thiên đàng. Tuy nhiên, chúng ta không thể kết luận rằng chúng ta có bổn phận phải cầu xin mọi ơn Chúa qua Mẹ hoặc lời cầu bầu của Mẹ tự bản chất cần thiết cho mọi ơn sủng. Nhưng qua Thánh ý của Chúa, không ai được ơn sủng, nếu không có sự hợp tác của Mẹ. Các nhà thần học dùng Phúc Âm thánh Gioan, “Này là con Mẹ, này là Mẹ con” (Jn. 19:26), theo đó, thánh Gioan đại diện cho cả nhân loại, thì Mẹ là Mẹ thiêng liêng của cả thế gian.

ÐỨC MARIA TRỌN ÐỜI ÐỒNG TRINH

Đa số người Tin Lành chỉ tin rằng Ðức Maria đồng trinh đến khi sinh Ðức Giêsu, sau đó Bà có thêm con với thánh Giuse. Họ viện dẫn những đoạn Kinh Thánh như Mt. 12:46; Mk. 6:3; Jn. 7:5; Acts 1:14; và I Cor. 9:5.

Trước tiên, người ta cần ghi nhận rằng tiếng “anh em” có ý nghĩa rất rộng trong Kinh Thánh. Không phải chỉ là anh em ruột, anh em cùng mẹ khác cha hay cùng cha khác mẹ. Tiếng “chị em” và “đồng bào” (brethren) cũng vậy. Ông Lot được diễn tả là “anh em” của ông Abraham (Gen. 14:14), nhưng thực ra ông là cháu của ông Abraham (Gen. 11:26-28). Ông Jacob đã có lần được gọi là “anh em” của ông Laban, nhưng ông Laban thực sự là cậu của ông Jacob (Gen. 29:15). Ông Cis và ông Eleazar là hai anh em ruột; Cis có con trai, Eleazar chỉ có con gái, và họ đã lấy nhau, gọi là “đồng bào” nhưng thực ra họ phải gọi nhau là “bà con” hay “anh em họ” mới đúng (I Chron. 23:21-22).

Mặt khác những tiếng “anh em, chị em, đồng bào” đôi khi còn ám chỉ những người bà con đã xa như trong (Dt. 23:7; Esd. 5:7; Jer. 34:9). Ở chỗ khác, chúng còn ám chỉ những người chẳng có họ hàng gì với nhau cả như trong (2 Sam. 1:26; I Kings 9:13; 20:32).

Nguyên nhân của sự “nhức đầu” này là vì hai ngôn ngữ Do Thái (Hebrew) và Aram, mà Chúa Giêsu và các môn đệ đã dùng, không có tiếng “bà con” (cousin). Khi cần thiết, họ phải nói rõ, thí dụ: “Con trai của em gái của cha tôi” (circumlocution). Do đó, khi không cần thiết họ đã dùng tiếng “anh em” cho đơn giản.

Các tác gỉa Tân Ước đã lớn lên trong ngôn ngữ Aram, dùng tiếng tương đương của chữ “đồng bào” cho cả bà con và anh em ruột thịt. Khi họ viết Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp (Greek), họ đã làm cùng một điều như các dịch gỉa của bản Septuagint đã làm. Trong bản Septuagint, chữ Do Thái ám chỉ anh em và họ hàng được phiên dịch là “adelphos,” tiếng này chỉ đơn thuần mang ý nghĩa anh em! Chữ Hy Lạp đã có tiếng khác để ám chỉ bà con, “anepsios,” nhưng các dịch gỉa bản Septuagint lại hay dùng tiếng adelphos hơn. Dù sao, nhìn vào toàn bộ các đoạn văn trong Kinh Thánh, thật khó mà có thể kết luận rằng Ðức Maria đã có thêm những người con khác.

Ở buổi truyền tin, Mẹ đã hỏi thiên sứ Gabriel “Chuyện này xảy ra làm sao được, vì tôi không biết đến nam nhân?” (Lk. 1:34). Những diễn dịch cổ thời nhất đã đồng ý rằng sở dĩ Ðức Mẹ hỏi thiên sứ câu đó là vì Mẹ đã hứa giữ lòng đồng trinh, ngay cả khi đã lập gia đình. Ðiều này có vẻ nghịch lý, nhưng lại thường xảy ra trong thời đại đó. Nhiều đôi nam nữ trước khi kết hôn đã cùng nguyện sống “đồng trinh” với nhau trong một thời gian, hay có khi suốt đời.

Trong đoạn Kinh Thánh nói về việc Chúa ở lại trong đền thờ, khi Ngài được 12 tuổi. Ðã không thấy nhắc đến những “người con khác” trong gia đình. Dân chúng ở Nazareth đã gọi Chúa Giêsu là “con trai bà Maria” (Mk. 6:3), chứ họ không nói “một trong những người con trai của bà Maria.” Cách diễn tả ấy trong tiếng Hy Lạp ám chỉ Ngài là con một của Ðức Maria. Phúc âm đã chẳng bao giờ nói đến “những người con trai khác của Ðức Maria,” ngay cả lúc họ được gọi là “đồng bào” của Chúa Giêsu.

Theo phong tục và cách diễn tả vào thời ấy, “đồng bào của Chúa Giêsu” được ám chỉ những người lớn tuổi hơn Ngài, vì họ đã “khuyên bảo” Chúa nên đến Jerusalem (Jn. 7:3-4). Nếu họ là những người lớn tuổi hơn Chúa Giêsu, thì làm sao có thể là anh em ruột của Ngài được, vì Ðức Giêsu là “con trai đầu lòng” của Ðức Mẹ?

Khi bị căng mình trên thập gía, Chúa Giêsu đã trối Ðức Mẹ cho thánh Gioan và thánh Gioan cho Ðức Mẹ (Jn. 19:26-27). Không một lời nào cho những người “bà con” như James, Joseph, Simon, và Jude. Nếu qủa thật những người đó là anh em ruột với Ngài thì thật là khó hiểu qua thái độ của Ngài. Nói cách khác, họ không phải là anh em ruột của Ngài.

Về những người “bà con” kể tên bên trên của Chúa Giêsu, nếu đối chiếu Phúc Âm của các thánh Matthêô (Mt. 27:56); Macô (Mk. 15:40; và Gioan (Jn. 19:25) tại chân thánh gía của Ngài, người ta sẽ thấy bà Maria Salome mẹ của hai thánh tông đồ James và John phải là vợ của ông Cleophas (còn gọi là Zebedee.) Nhưng ở Mt. 10:3 lại nói rằng James là con của ông Alphaeus! Như vậy, thứ nhất, bà mẹ của James có thể là vợ của cả hai ông Cleophas và Alphaeus (góa với ông trước rồi tái hôn với ông sau). Thứ hai, gỉa thuyết này có lẽ đúng hơn, ông Alphaeus đã đổi tên Do Thái của ông sang tên Hy Lạp (Clopas) như trường hợp thánh Phaolô đã đổi tên từ Saul thành Paul.

Người Tin Lành qúa khích lý luận trên câu Kinh Thánh: “Và ông đã không ăn ở vợ chồng với bà cho đến khi bà sinh con trai đầu lòng.” (Mt. 1:25). Họ nói rằng chữ “cho đến khi” đã nói lên rằng sau đó ông bà đã “ăn ở vợ chồng” với nhau và có thêm nhiều con cái nữa. Kế đến, chữ “con trai đầu lòng” cũng cho thấy còn “con trai thứ” nữa chứ?

Vấn đề ở đây là họ đã hiểu đoạn văn trên theo ý nghĩ của người thời nay, chứ không phải ý nghĩa chính mà tác gỉa Tin Mừng muốn diễn tả từ gần hai ngàn năm về trước. Trong những đoạn Kinh Thánh khác như II Sam. 6:23; Gen. 8:7; I Mac. 5:54; và Dt. 34:6 các tác gỉa cũng dùng những chữ “cho đến khi,” nhưng họ chỉ muốn nói rằng một sự kiện đã không xảy ra cho tới một thời gian nhất định, chứ không nhất quyết sự kiện ấy phải xảy ra sau đó.

Chẳng có sự chắc chắn nào về ý nghĩa của những chữ “cho đến khi” trong đoạn Phúc âm của thánh Gioan (Jn. 1:25) như người TLQK muốn áp đặt. Thứ hai, những chữ “con trai đầu lòng” được người Do Thái thời bấy giờ dùng để ám chỉ người con đã mở cung lòng của mẹ, như trong Ex. 13:2; Nb. 3:12, hoặc sẽ được thánh hóa (Ex. 34:20). Người ta không phải đợi đến khi có con trai thứ mới gọi người con cả là đầu lòng, họ luôn luôn gọi người con trai được sinh ra đầu tiên là đầu lòng, dù có con kế hay không.

Những bản văn của các Kitô hữu trong thời sơ khai của giáo hội cho thấy sự trọn đời đồng trinh của Ðức Mẹ đã được ghi nhận, minh chứng, và bảo vệ trong suốt lịch sử của giáo hội. Thí dụ như cuộc tranh luận trong cùng đề tài giữa thánh Jerome và Helvidius. Những văn bản của các thánh Ignatius, Polycarp, Irenaeus và Justin Martyr đều tuyên xưng Đức Mẹ là “Nữ Trinh trọn đời.”

TÓM LẠI

Có hai lý do chính khiến người Tin Lành qúa khích muốn đả phá sự trinh nguyên trọn đời của Ðức Mẹ. Thứ nhất, họ “không thích” sự độc thân của các LM, Tu Sĩ Công Giáo. Sự hi sinh đời sống gia đình để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân vẫn luôn cụ thể và được người đời quí trọng. Trong khi đó, họ không có sự hi sinh này vì hầu hết họ đều có gia đình. Ðánh đổ niềm tin vào sự trinh nguyên của Ðức Mẹ, họ hi vọng rằng sự độc thân của LM, Tu Sĩ cũng mất đi ý nghĩa.

Thứ hai, đối với các tín hữu Công Giáo, Ðức Mẹ chắc chắn phải khác hơn mọi người nữ, Mẹ đáng được tôn kính cách đặc biệt. Mặc dù chúng ta không nên (và không được) tôn thờ (Latria) Đức Mẹ, nhưng sự tôn kính đặc biệt đối với Ðức Mẹ (Hyperdulia) phải cao hơn sự tôn kính các thánh khác. Nhưng người Tin Lành qúa khích vẫn muốn chứng minh rằng Ðức Mẹ cũng chẳng khác gì những người nữ của mọi thời đại qua việc có thêm con cái. Nếu họ thành công trong điều này thì các tín điều và tín lý của Công Giáo về Ðức Mẹ sẽ trở thành phi lý.

Người Công Giáo TIN và SỐNG những niềm tin nêu trên, bởi vì Ðức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, là Ðấng Trinh Thai, là Ðấng Vô Nhiễm, là Ðấng được Thiên Chúa đưa cả hồn xác về trời, đồng thời là Ðấng Trung Gian, là Máng chuyển mọi ơn thiêng của Ngài.
http://www.vietcatholic.net/News/Html/91516.htm
LM Phaolô Nguyễn Văn Tùng